“Hồi đó, tôi chưa gọi Mắt Biếc là Mắt Biếc. Tôi gọi nó là Hà Lan, như mọi người vẫn gọi.”

Hà Lan dễ thương và duyên dáng. Thằng Ngạn thích nhìn đôi mắt cô bé lắm, trong đấy ánh lên vẻ lấp lánh, ngơ ngác, hồn nhiên. Lắm lúc cậu ngẩn ngơ phải chăng mình đang ngắm phải những viên bi trong suốt lúc còn nhỏ, hay lớn lên lại nghĩ đó là bầu trời, dòng sông hoặc ước mơ về tình cảm trong trẻo.

Đôi mắt ấy có hôm ngấn nước, nói rằng Hòa dẫm lên chân Hà Lan bầm tím cho Ngạn nghe. Thằng đó con thầy Phu, một đứa hung hãn và ngang ngạnh, nó dựa theo uy thầy mà tác oai tác quái. Nó tước đoạt thẳng tay những viên bi mù u, những nắp keng đã đổ đầy sáp của bọn con trai và cả những sợi thun của tụi con gái.

“Tôi bước lại cạnh Hòa và không nói không rằng, tôi dang tay tống cho nó một quả vào bụng. Hòa ngã bật gọng xuống đất và trước khi nó kịp giẫy nẩy và tru tréo theo thói quen, tôi nghiến răng đá vào đùi nó những cú đá đau điếng.”

Thế rồi Ngạn cũng bị thầy Phu phạt nhảy mười vòng sân, giữa vòng thứ sáu đã lúi chúi quay đầu té ngất đi. Tỉnh lại giữa mùi dầu cù và lá ngải cứu, có gương mặt Hà Lan khóc thút thít, đôi mắt mở to, lo âu và đẹp lạ lùng – mắt biếc.

Trong mắt Hà Lan bé bỏng, “anh hùng” Ngạn bắt đầu từ đó. Biết con bé mê quả thị, Ngạn không ngại trước đám chó sau sân vườn ông Cửu Hoành, có hôm u đầu sứt trán nhưng cậu nhặt được thị về cho Hà Lan. Còn những buổi bắt nhái, Hà Lan xách cái giỏ đi kè kè, hễ Ngạn tóm được con nhái nào là nó mở nắp giỏ để bỏ vào, cuối buổi chia đôi số nhái, còn dư thì cho Hà Lan. Vì cái dùi trống, Ngạn lại nện nhau nhừ tử với tụi lớp trên để lấy cho Hà Lan đánh. Hà Lan thích trâm và bông dủ dẻ, Ngạn “tập làm con khỉ” trèo đi hái. Hà Lan muốn lấy trứng chim, Ngạn tìm quanh ngôi trường. Tất cả sự ưu tiên ấy mãi không thay đổi.

Rồi cũng đến ngày Hà Lan trở thành người con gái của tà áo dài trắng thướt tha, mái tóc đã biết xõa theo nét lững lờ men dọc suốt con đường làng yêu dấu. Người mà cậu bé Ngạn hôm nào xốn xang và xao động, có đứa con trai áo trắng quần xanh, mỗi chiều chong mắt tìm Hà Lan giữa một bờ biển trắng biếc trước cổng trường Nữ sinh, rồi lại tiếp tục đạp xe lẽo đẽo phía sau, sợ bị Hà Lan bắt gặp, lặng lẽ chôn cất tình cảm qua quãng đời trung học còn lại nhưng cũng sắp kết thúc. Ngạn biết rằng những cảm giác ấy không chỉ là cơn say nắng của một buổi trưa hè lặng gió, mà còn hơn cả như thế, chúng đã lớn đến độ thắp lên thành một ngọn lửa tình.

“Nhưng dù sao đời nó sẽ khổ”, bà Ngạn lúc còn sống đã nói với cậu như vậy.

Ngạn thì cứ “lớn lên, cháu sẽ cưới nó làm vợ, bà ạ!”. Là lúc dưới ánh trăng, những bản tình ca trong cậu chớm nở, cậu làm nhà thơ, cậu làm người nhạc sĩ đánh ghi-ta hay muốn làm chàng Trương Chi si tình trong văn học, tất cả chỉ để dành riêng cho mỗi Hà Lan mà thôi:

“Có những lúc

Tôi ngỡ ngàng tự hỏi

Tại vì sao

Tôi lại yêu em”

Những cảm xúc tinh khôi ấy có còn được lưu giữ theo năm tháng. Khi con đường đến trường cấp ba của cả hai dần rộng mở, cách xa làng cũ Đo Đo để đi tới những tòa thị thành vội vã. Tiếng ghi-ta ấy có thôi đánh trước hiên nhà, với những lời hoài vọng sâu lắng? Người sẽ nghe thấy âm vang ấy không, và người sẽ làm gì, quay trở lại hay ngoảnh mặt bước đi?    

Từ khi ấy, Mắt biếc được biết đến, cũng chính là lúc nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã vô tình kéo những cơn mưa rào bịn rịn rơi vào lòng độc giả. Thế giới của Mắt Biếc tràn ngập ký ức trong lành và khờ dại của tuổi thơ về tình yêu quê hương và tình cảm đầu đời nhưng vẫn lấm tấm trong đó cơn đau day dứt và nhen nhóm xót xa nỗi hoài mong như không thể giữ trọn một lời thề nguyện của cuộc tình đơn phương. Suốt gần ba mươi năm kể từ khi tác phẩm ra mắt, còn ít hơn ngần ấy năm một người chờ đợi một người trong Mắt Biếc, nơi có giàn hoa thiên lý cheo leo, có bụi sim già thấp thoáng bóng người thương, nơi có khúc sông già nua chất chứa nỗi buồn sâu thẳm theo những bản thơ tình, nơi có một người chớp mắt theo giấc mơ vụn vỡ, khi tỉnh dậy cũng đã thấy tình mình vỡ nát.

Đâu đó Mắt biếc vẫn cuốn say chúng ta bởi nét nhìn ngô nghê của từng nhân vật qua mấy mùa phượng nở tìm đến tiếng ve chào thân mật tới hàng nắng hạ lấp lánh. Để rồi dành lời chào tạm biệt mùa hè tàn úa cuối cùng làm chấm dứt bởi ngã rẽ chênh vênh của cuộc đời, thấm ướt trang giấy trắng bởi sự mau chóng từ lớp cuộn thời gian nghiệt ngã. Biết bao số phận đổi thay. Cuối cùng nhìn lại và nhận ra mình đã lạc mất.

“Tôi gửi cho tình yêu mùa hè, nhưng mùa hè không giữ nổi. Mùa hè chỉ biết ra hoa, phượng đỏ sân trường và tiếng ve nỉ non trong lá. Mùa hè ngây ngô, giống như tôi vậy. Nó chẳng làm được những gì tôi ký thác. Nó để Hà Lan đốt tôi, đốt trụi. Trái tim tôi cháy thành tro, rơi vãi trên đường về.”

“Và tôi xoay lưng nằm úp mặt vô tường, buồn muốn khóc. Tôi làm con cá nhỏ, bơi trong nỗi buồn. Nỗi buồn mênh mông như biển, tôi bơi suốt đêm vẫn chưa ra khỏi. Nhưng tôi vẫn lặng lẽ bơi, ngậm ngùi, cô độc, thỉnh thoảng quẫy mạnh chiếc đuôi dài làm xuất hiện những đốm bọt màu sữa như những ngôi sao nhỏ.”

Độc giả sờ chạm lấy từng nỗi buồn buộc vào lòng như một sự ám ảnh không thể trốn thoát. Còn đối với riêng Nguyễn Nhật Ánh, khi tác giả được đối mặt Mắt biếc, nhà văn thấy an lòng, vỗ về tất cả chúng ta: “Với tôi, tình yêu không bao giờ là sự thiệt thòi, dù là yêu đơn phương đi nữa. Bởi yêu, bản thân nó là sự tự nguyện, là nơi bày biện tất cả những gì đẹp nhất của tâm hồn. Ngay cả khi tình yêu tan vỡ thì tôi vẫn luôn yêu những mảnh vỡ của nó”. Hãy để cho tình yêu bắt nguồn từ tình yêu, là từ lòng cao thượng, như Ngạn, cậu sẵn sàng đánh đổi tình cảm của mình để người mình thương được hạnh phúc, cho dù có đánh đổi lại cho mình niềm đau không sao diễn tả, nhưng, đó đã là “nỗi mong mỏi buồn bã” của cậu rồi. 

“Lặng lẽ chiều nay

Lặng lẽ mùa hè

Sân trường vắng

Và lòng tôi cũng vắng

Muốn tặng em

Một chùm phượng thắm

Tôi nhờ mùa hè

Bẻ hộ tôi”

Quanh đi suốt mấy mươi năm cuộc đời, lâu rồi một câu hỏi mà Ngạn luôn đi tìm câu trả lời:

“Có phải bên trời, ai mới vừa thổi tắt một vì sao biếc.” 

Phong Châu