Mạc Ngôn là một trong những nhà văn Trung Quốc đi đầu cho khuynh hướng văn học đương đại “tầm căn” vào cuối thế kỷ XX. Ở văn ông luôn có một sự dũng cảm là để viết, để in, để tìm về nguồn cội và những gì nguyên bản nhất của người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ.

Đôi nét về cuộc đời tác giả

Mạc Ngôn sinh năm 1955 tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, thuộc vùng Đông Bắc Trung Quốc với tên thật là Quản Mạc Nghiệp.

Ông đã trải qua một tuổi thơ bất hạnh và tràn đầy sóng gió, buộc phải nghỉ học giữa chừng do ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa. Vì còn quá nhỏ để làm việc nặng nhọc nên nhà văn đã đi chăn cừu và gia súc bên một bờ sông.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Chân dung nhà văn Mạc Ngôn.

Ông chỉ được đứng từ xa để nhìn vào trường học, nhìn cảnh những người bạn đang chơi đùa trong sân, điều đó luôn khiến Mạc Ngôn cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết nên nhà văn đã dành đa phần thời gian để tưởng tượng ra những câu chuyện nhằm khỏa lấp tâm hồn trống rỗng của bản thân:

“Đôi khi tôi trò chuyện với lũ chim trên trời, bắt chước tiếng kêu của chúng; vài lần khác tôi tiết lộ với một cái cây những hy vọng và khát khao của mình. Nhưng lũ chim phớt lờ tôi, cả cái cây cũng vậy.”

Trong quãng thời gian này, Mạc Ngôn bắt đầu việc học của mình qua nghe, ông ra chợ vừa làm lụng cùng mẹ vừa lắng tai nghe những câu chuyện mà người đời kể lại. Nhà văn nói rằng, hơn hai trăm năm trước đây, Bồ Tùng Linh đã sống gần nơi này nên bản thân hay bất cứ ai cũng đều tiếp nối truyền thống mà ông đã để lại. 

Có lẽ cũng chính vì điều này nên đa phần tác phẩm của ông đều hướng nhiều đến những chuyện tình siêu nhiên mang trên mình màu sắc lịch sử hoặc một vài câu chuyện kỳ lạ, lôi cuốn và tất cả luôn có mối liên kết chặt chẽ với hiện thực của cuộc sống.

Hơn hai mươi năm sau, Mạc Ngôn lên đường nhập ngũ, ông đi và mang theo bốn cuốn Đại cương lịch sử Trung Quốc mà mẹ mình vừa mua bằng tiền bán đồ trang sức đám cưới, theo nhà văn thì đây chính là thời kỳ quan trọng nhất trong cuộc đời của ông.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh nhà văn Mạc Ngôn.

Bởi lẽ trong giai đoạn này, văn học Trung Quốc bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc Cách mạng Văn hóa đồng thời gắn liền với những chuyển biến sâu sắc của việc mở cửa kinh tế, cải cách chính trị nên bộ mặt văn học lúc bấy giờ đã được đổi mới rất triệt để và người ta gọi đó là văn học Thời kỳ mới.

Chính điều này đã khiến cho ngòi bút cũng như tư tưởng Mạc Ngôn bị chi phối sâu sắc. Năm 1984, ông trúng tuyển vào Viện nghệ thuật Giải phóng quân nhân Trung Quốc, tại đây Mạc Ngôn đã tìm được lý tưởng của bản thân mà theo ông thì đó là một người nông dân lang thang nay đã tìm ra được mảnh đất cho riêng mình.

Trong quãng thời gian này, Mạc Ngôn dần hình thành cho bản thân một hướng đi riêng, từ góc nhìn là một cậu bé hay quan sát, lắng nghe để kể lại và sáng tạo những câu chuyện thì ông đã trở thành người viết truyện.

Đa phần các nhà văn ở giai đoạn này đều bị ảnh hưởng tư tưởng bởi dòng văn học Mỹ Latinh và Mạc Ngôn cũng không ngoại lệ.

Cái cách thức cũng như lối viết mới, tự do, tràn đầy phóng khoáng của hai tiểu thuyết gia người Mỹ William Faulkner và người Colombia Gabriel García Márquez đã chi phối rất nhiều đến ngòi bút Mạc Ngôn. Đúng với nhận xét của nhà viết kịch Pavlovich Chekhov rằng:

“Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả. Nếu anh không có giọng riêng thì khó mà trở thành một nhà văn thực thụ.”

Suốt hai năm theo bước những con người ấy, Mạc Ngôn đi gần với họ, tuy hòa hợp nhưng không hề hòa tan. Ông biết được, hiểu được họ đang làm gì và làm như thế nào, để từ đó chính bản thân nhà văn có thể định hướng được cho mình một phong cách sáng tác riêng:

“Họ là hai chiếc lò rực lửa, còn tôi là một khối băng. Nếu tôi quá sát học thì tôi thì bị hóa hơi. Theo tôi, một tác giả này có ảnh hưởng tới một tác giả khác khi cả hai có sự tương đồng sâu sắc về tinh thần, hay thứ mà người ta gọi là “những trái tim cùng nhịp.”

Ông bước vào thế giới văn chương mà không mang theo những gì to lớn hay hoài bão như những nhà văn cùng thời, đối với bản thân tác giả thì đó chỉ là viết để kiếm chút tiền nhuận bút, may ra thì có thể mua được đôi giày bóng loáng hoặc thỏa mãn lòng hư vinh của một chàng thanh niên:

“Hai mươi năm trước, khi cầm bút viết tác phẩm đầu tay, tôi không nghĩ rằng công việc này lại làm thay đổi số phận của mình, cũng không hề nghĩ rằng một bộ phận tác phẩm của mình lại làm thay đổi diện mạo của văn học đương đại Trung Quốc.”

Khi còn nhỏ, ông luôn sống trong những tháng ngày nghèo khổ, khốn khó nên chuyện miếng ăn, giấc ngủ hay cái đói luôn là một điều ám ảnh, đau đớn và kinh hoàng nhất trong một phần ký ức của nhà văn.

Từ cảnh sinh hoạt đời thường đến những câu chuyện thực tế trong cuộc sống đã đi vào văn Mạc Ngôn như một điều tất yếu:

“Đói khát, cô đơn là tài sản của tôi.”

Ông hướng ngòi bút đến nhiều thể loại như tạp văn, tùy bút, truyện ngắn hay phóng sự nhưng thành công nhất đối với Mạc Ngôn chính là tiểu thuyết.

Với một cái nhìn chân thực và giọng văn trần thuật thì nhà văn đã sáng tạo nên một thế giới nhân vật rất đa dạng để qua đó có thể bộc lộ được những tình cảm, suy tư của bản thân.

Tác phẩm đầu tay của Mạc Ngôn là Bước 13, ông nổi tiếng với hàng loạt tiểu thuyết như Cao lương đỏ, Cây tỏi nổi giận, Ếch, Noãn. Đặc điểm chung của đa phần những cuốn sách trên đều là bức tranh tái hiện lại một thời loạn lạc của đất nước Trung Quốc diễn ra trong không gian nhỏ hẹp tại vùng Cao Mật Đông Bắc.

Ở đó tồn tại hai tầng lớp xã hội là quan lại và nông dân tuy đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất, tất cả tạo nên một cuộc sống có cả cảm xúc và linh hồn.

Mạc Ngôn luôn để lịch sử đi vào dòng chảy văn học

Nhà văn vốn sinh ra trong một thời kỳ đầy những biến động mang tính bi kịch sâu sắc của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ nên điều này đã tác động không ít đến sáng tác cũng như phong cách nghệ thuật của Mạc Ngôn. 

Chúng ta có thể bắt gặp mọi khía cạnh của cuộc sống, đó là cải cách ruộng đất nông thôn, công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa với sự thiệt hại nặng nề của phong trào Đại nhảy vọt do Mao Trạch Đông đứng đầu và cả hiện trạng quan liêu cửa quyền, tham nhũng, từ kinh tế đến chính trị hay các lĩnh vực khác đều bị ảnh hưởng sâu sắc.

Là người chứng kiến cảnh tượng ấy, Mạc Ngôn đã đưa vào tác phẩm của mình cả một quá trình chiều dài lịch sử đất nước để bản thân có thể thể hiện thái độ một cách thẳng thắn và trung thực nhất và Đàn hương hình chính là một minh chứng cho điều trên.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Tác phẩm Đàn hương hình của nhà văn Mạc Ngôn.

Cuốn sách có sự xuất hiện của hí kịch Miêu Xoang, một loại nhạc dân gian rất thịnh hành ở vùng Cao Mật Đông Bắc.

Tiểu thuyết là một sự tổng thể về những sự kiện cách mạng, tội phạm và cả luyến ái nằm trọn trong ba phần đồng thời nó còn giúp cho độc giả hiểu thêm về hình thức tra tấn của Trung Quốc.

Đàn hương hình là một tác phẩm mang trên mình sự độc đáo trong lối kể chuyện để rồi từ đó Mạc Ngôn có thể khắc họa nhân vật một cách linh hoạt và sáng tạo hơn bao giờ hết. Đến với Chương I, nhân vật Triệu Giáp là cha chồng của Mị Nương đến nằm mơ cũng không ngờ được rằng, bảy ngày sau đó lão sẽ chết dưới tay con dâu:

 

“Chết như một con chó trung thành với chức phận.”

Triệu Giáp nhìn bề ngoài trông giống như một viên ngoại, càng giống hơn với dáng vẻ là một ông già có con cháu đầy đàn nhưng không, lão lại là một tên đao phủ hạng nhất Bộ Hình ở kinh thành, là một lưỡi dao sắc bén dưới triều đại nhà Thanh. 

Dao trắng đâm vào, dao đỏ rút ra. Cha nào con nấy, Tiểu Giáp là chồng của Mị Nương đứng đầu trong nghề mổ lợn, giết chó, tiếng tăm lừng lẫy khắp cả vùng này. Hắn cao to, đầu lại hói quá nửa, cằm nhẵn thín, ban ngày thì vật và vật vờ như một tên nghiện ngập còn ban đêm thì như cây gỗ mục.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh bìa cuốn sách Đàn hương hình bản tiếng Trung.

Tôn Mị Nương, người phụ nữ xinh đẹp ở vùng Cao Mật, nàng có một cửa hàng bày bán thịt chó cho nên mọi người vẫn thường gọi là Tây Thi Thịt Cầy. Từ khi lấy chồng, nàng rất bất mãn với chuyện Tiểu Giáp không thể làm cho mình có con.

Cùng với việc Tôn Bính, cha đẻ của Mị Nương, trong một lần bảo vệ cho vợ thoát khỏi cảnh bị lính Đức hãm hiếp, ông đã giết tên đó và bị quan tri huyện vùng Cao Mật Tiền Đinh cho quân truy bắt.

Tôn Bính bị bắt vào tù và nhận mệnh hành hình, trớ trêu thay, người thực hiện việc đó không ai khác lại là Triệu Giáp. Lão dựa trên một hình phạt mà thời Ung Chính đã dùng để xử tội một người dám phóng uế gần Hoàng Lăng, đó là đàn hương hình. 

Sự kiện trên đã khiến cho Mị Nương cực kỳ rầu rĩ, bồn chồn và lo lắng không thôi, đến cuối cùng vì để cứu cha nên nàng đã có quan hệ bất chính với bố chồng của mình là Triệu Giáp:

“Rượu nồng, thịt béo, con gái nuôi nằm tênh hênh trên giường, thưa ông lớn, tôi hầu hạ ông, khiến ông khoan khoái hơn đương kim Hoàng thượng! Tôi đem tấm thân nuột nà hơn lụa Tô Châu, ngọt hơn dưa mật vùng Quan Đông, để ông tận hưởng bao nhiêu lần đắc đạo, bao nhiêu lần lên tiên! Vậy mà vì sao ông không tha cha tôi một lần? Vì sao ông cấu kết với bọn giặc Đức bắt giữ cha tôi, đốt phá làng mạc bọn tôi? Nếu biết ông là người bạc tình bạc nghĩa, thì chẳng thà tôi đổ rượu xuống vại nước tiểu, quẳng thịt chó cho lợn ăn.”

Mỗi buổi sáng khi đang chải đầu cho Triệu Giáp, lão cứ dùng đuôi sam quét lên người Mị Nương từ đỉnh đầu đến tận gót chân rồi đưa tay sờ soạng khiến cho người nàng nóng ran và như thường lệ, dù chưa chải đầu xong nhưng hai bọn họ đã dính chặt vào nhau.

Không chỉ nói về nhục dục mà Đàn hương hình còn tái hiện lại một thời đại Trung Quốc chìm trong máu tanh, vương khắp cả đất trời. Điều này đã chứng tỏ rằng, vương triều Đại Thanh đã đến hồi mạt vận, ngổn ngang trăm mối, bơ vơ bốn cõi, một màu thê lương.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh bìa cuốn sách Đàn hương hình tiếng Trung của Mạc Ngôn.

Hoàng Thái Hậu tức Từ Hi ép Hoàng Thượng là Quang Đức phải bỏ chạy ra Lang Đức, Kinh thành Bắc Kinh lang sói hoành hành, hoàng cung nội chiến, thần thánh miếu đường đã trở thành nơi hành lạc và doanh trại của liên quân tám nước.

Viên Thế Khải, một đại thần cuối đời nhà Thanh đã tiêu tốn hơn hàng chục triệu lạng bạc để xây dựng quân đội tinh nhuệ nhưng lại không bảo vệ thủ đô, không giết giặc hay bắt tướng gian mà quay sang tiếp tay cho quân xâm lăng nhằm trấn áp nhân dân ở Sơn Đông, đám trẻ con nơi hẻo lánh đã truyền miệng:

“(Triều) Thanh mà không thanh (trong sạch), Viên (Thế Khải) mà không phải là Viên Thế Khải, là Tào A Man!”

Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến một điểm đặc biệt của Đàn hương hình đó là lịch sử về hí kịch Miêu Xoang.

Bắt đầu vào những năm của thời Ung Chính, một quái kiệt có tên là Thường Mậu đã đến vùng Cao Mật Đông Bắc, ông ta không vợ cũng không con, chỉ một hình một bóng cùng con mèo đen làm bạn.

Thường Mậu đứng đắn, được mọi người yêu quý, trong một lần đi dự đám tang của một người bạn, vì quá thương xót nên tâm tình phát động, ông đứng trước mộ vừa khóc vừa kể.

Giọng Thường Mậu lại mượt mà, tiếng khóc có tình khiến cho thân nhân người chết quên luôn cả khóc mà yên lặng lắng nghe. Ai nấy đều xúc động đến không nghĩ được ông thợ hành nghề này lại có giọng hay đến thế.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hí kịch Miêu Xoang ở Trung Quốc.

Đây là thời kỳ trang nghiêm trong lịch sử Miêu Xoang. Đó là lời than vãn, vỗ về xuất phát từ tấm lòng trung thực, lời hát tang của Thường Mậu như cây trúc xanh mọc trên tầm cao, hơn hẳn với tiếng khóc tỉ tê của các bà, các cô hay tiếng khóc hờ hững của những cánh đàn ông.

Mãi đến sau này khi con mèo đen vẫn thường hay đi bên cạnh ông chết đi, người ta nói vì tuổi già mà chết hoặc cũng có thể một kép hát ghen tị nên đầu độc chết thì Thường Mậu đã ôm lấy xác nó khóc ba ngày ba đêm.

Sau này đến khi Tôn Bính kể lại, trong tiếng ca Miêu Xoang cao vút tầng mây, trong tiếng mèo ran ran mặt đất ấy, người dân Cao Mật trông thấy Viên Thế Khải cùng Caclot mặt vàng bệch và lũ quan hoảng loạn như gặp địch. Bọn giặc mở mắt mà trông, đệ tử Miêu Xoang phất cờ nổi dậy, trong lòng họ thầm hát mãi một lời ca:

 

“Ta chế không ân hận, lửa cháy lên rồi ta những mong chờ!”

Nhà văn Mạc Ngôn tâm sự đôi lời ở cuối sách rằng: 

“Tôi viết Đàn hương hình khoảng năm vạn chữ xoay quanh truyền thuyết thần kỳ về xe lửa và đường sắt, sau một thời gian xem lại, thấy đậm mùi hiện thực ảo, vậy là phải cân nhắc lại rất nhiều tình tiết hấp dẫn vì mang hơi hướng ma quái, đành bỏ. Cuối cùng, phải giảm nhẹ âm thanh xe lửa và đường sắt, nổi bật âm thanh điệu hát Miêu xoang.”

Đàn hương hình là một tác phẩm độc đáo cho ngòi bút lẫn phong cách nghệ thuật của Mạc Ngôn. Cuốn sách không chỉ đề cập đến mâu thuẫn gay gắt giữa quân xâm lược với nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ, ví dụ như cuộc đấu tranh của Tôn Bính mà còn nhắc đến mâu thuẫn giữa cái mới với cái cũ. 

Đó là âm thanh kêu gào, phẫn nộ nơi tuyến đường sắt Giao Tế, đại diện cho sự xuất hiện của yếu tố hiện đại và ngược lại thì âm thanh Miêu Xoang vang lên như một nét tiêu biểu cho nền văn hóa truyền thống của người Trung Quốc.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh đời thường của nhà văn Mạc Ngôn.

Có thể nói rằng, hai âm thanh này đã được ông xen kẽ, lồng ghép một cách rất tài tình vào từng chi tiết trong Đàn hương hình.

Đề tài tiểu thuyết ở Trung Quốc ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn bao giờ hết, trong thời kỳ mới, tầm mắt của những nhà văn cũng được mở rộng và giải phóng. Tuy nhiên, họ một mặt vẫn chưa từ bỏ được việc hướng về đề tài lịch sử.

Đó là cái nhìn phản ánh cả một thời, một đất nước, một đời sống và toàn bộ nhân dân. Những nhà văn ấy đã đặt tầm nhìn của mình vào thế sự, vào con người đồng thời biến họ trở thành quan niệm thẩm mỹ riêng cho bản thân và Mạc Ngôn chính là như thế.

Khi con người là trung tâm để phản ánh hiện thực

Từ dòng chảy mạnh mẽ của đời sống và sự đào thải quyết liệt của thời gian, bởi lẽ nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại nên những con người ấy vẫn luôn có sự gắn bó chặt chẽ, mật thiết với cuộc sống nhân dân và tình hình đất nước.

Mọi hiện thực đi vào mỗi tác phẩm đều được khúc xạ qua lăng kính tâm hồn người nghệ sĩ, để rồi từ đó họ đã chọn đời sống làm nơi xuất phát đầu tiên của văn học. 

Lấy bối cảnh đất nước dưới triều đình Đại Thanh làm nguồn cảm hứng, chúng ta có Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cẩn hay Ngô Kính Tử với Chuyện làng Nho thì tất cả đều là những cuốn tiểu thuyết xuất sắc về một bức tranh xã hội đương thời mục rữa, thối nát và đạo đức thế sự.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh bìa cuốn sách Báu vật của đời.

Sau này cũng thế, chúng ta có thể bắt gặp Mạc Ngôn cũng viết về đời nhà Thanh nhưng không rộng rãi như những tác phẩm trên mà chỉ nằm trọn trong một không gian hẹp là vùng Đông Bắc Cao Mật, nơi mà đa phần các tác phẩm của ông đều chọn lựa nhằm phản ánh hiện thực đời sống.

Mạc Ngôn đã xuất hiện như một ngọn gió làm sáng bừng lên ngọn lửa tiểu thuyết mang tính sử thi mà bấy lâu nay tưởng chừng đã nguội lạnh và Báu vật của đời chính là một trong những tác phẩm của ông chứng minh cho điều trên. Nhà văn đã từng chia sẻ trong một bài phát biểu rằng:

“Trong vũ trụ bao la, vị trí con người là vô cùng bé nhỏ. Lịch sử quá khứ và thế giới hiện tại liên quan mật thiết với nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của người đương đại.”

Báu vật của đời mở ra một vùng biến cố ở Cao Mật – Đại La, nghe tin quân kỵ của Nhật đã xuất phát từ huyện lỵ đến đây khiến cho nhiều người phải chạy ra khỏi nhà, tíu tít bận rộn như một đàn kiến.

Người thì đi, người thì chạy, người đứng yên, người chạy đông rồi lại chạy tây, ngó hết chỗ này đến chỗ khác, cứ thế mỗi ngày đều có một cuộc chạy loạn xảy ra.

Từ điểm nhìn ở hiện thực xã hội đương đại, Mạc Ngôn đưa người đọc quay trở về xã hội phong kiến, nơi đây vẫn còn tồn tại những lễ giáo rất gay gắt đối với người phụ nữ. Họ là nạn nhân của nhiều quan niệm hà khắc, bị xem như một công cụ sản xuất vô dụng không hơn không kém.

Báu vật của đời xoay quanh nhân vật chính là Lỗ Toàn Nhi, người sớm mồ côi cha mẹ trong một cuộc tàn sát của quân Đức nên ngay từ những ngày còn nhỏ, nàng không chỉ nếm trải nỗi đau do chiến tranh gây ra mà còn phải chịu đựng nỗi đau bị bơ vơ trên chính quê hương của mình.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Tiểu thuyết Báu vật của đời bản Trung.

Lên năm tuổi, nàng bắt buộc phải bó chân, một phong tục tàn khốc và đau đớn khiến cho người phụ nữ Trung Quốc xưa phải chịu đựng những thương tích, tật nguyền với lý do rằng, đàn bà nếu không bó chân sẽ thành bàn chân cuốc, sẽ không thể dựng vợ gả chồng.

Với sự miêu tả chân thật như thế, Mạc Ngôn đã để cho chúng ta thấu hiểu được nỗi đau đến tột cùng của họ:

“Bà dùng nẹp tre cố định chân mẹ lại, khiến mẹ gào lên như lợn bị chọc tiết, phải kẹp chặt vì tạo hình cho bàn chân nhỏ rất quan trọng. Sau đó quấn thật chặt hết lớp này đến lớp khác những đoạn vải đã tẩm nước muốn phơi khô, rồi lấy dùi gỗ vỗ một lượt. Mẹ kể rằng, buốt đến tận óc.”

Đến năm mười bảy tuổi, Lỗ Toàn Nhi được gả vào nhà Thượng Quan làm vợ của Thọ Hỷ, một gã đàn ông bất tài, vũ phu, lại không có khả năng truyền giống cho nên mọi bất lực, gánh nặng và khát khao được bồng bế cháu chắt trên tay đều bị đổ lên đầu nàng.

Thế là Lỗ Toàn Nhi phải mang thân mình đi xin giống của những người đàn ông xa lạ đến sau này cũng sinh được một đàn con gồm tám người con gái và một người con trai.

Lúc nàng hạ sinh đứa con cuối cùng, mẹ chồng không thèm gọi bà đỡ mà lại gọi Ba Phàn, người chuyên đỡ đẻ cho lừa và ngựa vì bà cho rằng, người và vật cũng không khác gì nhau.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh nhà văn Mạc Ngôn tại buổi họp báo.

Nỗi đau lớn nhất của nàng không phải là mất cha mất mẹ, không phải lấy nhầm chồng, không phải vì chuyện mẹ chồng nàng dâu mà là tập tục cay nghiệt phải sinh cho được con trai để thờ cúng tổ tiên đã khiến Lỗ Toàn Nhi phải đi ngủ với những gã đàn ông mà mình không hề mong muốn.

Thông qua nhân vật trên, Mạc Ngôn đã nói lên được nỗi tủi nhục của người phụ nữ Trung Quốc xưa, họ bị khinh rẻ nhân phẩm và bị phủ nhận giá trị tồn tại trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ:

“Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn sinh con gái cũng không được. Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai.”

Lỗ Toàn Nhi là một trong những nhân chứng sống đi vào văn chương và tạo nên ấn tượng trong lòng độc giả.

Đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ xảy ra nhiều biến động song xã hội phong kiến vẫn không giảm đi tính ảnh hưởng nên điều đó đã khiến cho người phụ nữ vẫn phải chịu nhiều áp bức và gánh nặng.

Ngoài ra nhân vật Phán Đệ, con gái Lỗ Toàn Nhi được Mạc Ngôn xây dựng để nói đến những điều cực đoan của Đảng cộng sản Trung Quốc đương thời.

Nàng là biểu trưng cho hình ảnh những con người làm cách mạng rời xa quần chúng với những triết lý chính trị rỗng tuếch đến nỗi cô em gái Kim Đồng phải chửi một câu “Đồ khốn!”.

Họ mù quáng chỉ biết đứng lên đấu tranh giành quyền lực trong những buổi đầu non trẻ cách mạng. Khác với Việt Nam thì ở Trung Quốc lúc bấy giờ, những con người ấy cho rằng rời xa quần chúng là một điều tích cực, một phong trào được hô hào.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh đời thường của nhà văn Mạc Ngôn.

Xã hội phong kiến chồng chất lên việc làm cách mạng, đời nhà Thanh trên đà suy thoái cùng với chuyện giặc ngoại xâm khiến cho mọi thứ chuyển biến ngày càng phức tạp và nhanh chóng.

Phán Đệ làm cách mạng bị người ta bắn chết, theo lời người dân thì không là cách mạng thì cũng là phản cách mạng, không có con đường thứ ba, cho nên họ lựa chọn đến với cách mạng, đến với sự hám danh trong những buổi đầu không phân biệt được trắng đen:

“Nếu như khoa học của giai cấp vô sản chờ đợi một loại giống mới qua việc bắt cừu giao phối với thỏ, thì khoa học của giai cấp vô sản chỉ là bãi cứt chó?”

Những con người như thế cũng đủ để phản ảnh được một thời loạn lạc của đất nước Trung Hoa, đó là giai đoạn sai lầm đem lại nhiều hậu quả nặng nề, lấy đi không biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân vô tội.

Họ hằng ngày vẫn phải nương theo những biến cố và thay đổi bất chợt ấy. Cuộc “Đại cách mạng văn hóa” hay còn được gọi với cái tên “10 năm hỗn loạn” đã làm thay đổi quan niệm xã hội, chính trị và đạo đức của nhân dân Trung Quốc một cách toàn diện và sâu sắc, hiện thực ấy đi vào văn chương qua sự tha hóa của con người.

Mạc Ngôn, Mạc Ngôn: Mối tình lịch sử với đất Trung Hoa
Hình ảnh nhà văn tại buổi họp báo.

Mạc Ngôn đã viết hơn hai trăm tác phẩm và tất cả đều làm hiện lên được một Trung Quốc đầy rẫy những biến động, truân chuyên trong thế kỷ XX. Năm 2012, tên của ông được xướng lên trong giải Nobel văn học và lời tuyên dương của Viện Hàn Lâm Thụy Điển dành cho Mạc Ngôn là:

“Nhà văn pha trộn được chủ nghĩa hiện thực ảo giác với truyện dân gian, lịch sử và đương đại.”

Chính điều trên đã phần nào làm rõ được khuynh hướng cũng như tầm ảnh hưởng của Mạc Ngôn đối với thể loại “văn học tầm căn” nói riêng và thế giới văn học nói chung. Ông hướng ngòi bút của mình đến hình ảnh của những người nông dân, đến cuộc sống và cả những cuộc đấu tranh của họ.

Mỗi nhân vật trong tác phẩm đều là hiện thân của một đất nước Trung Hoa đau thương, đứng lên đấu tranh cho quyền lợi, vì độc lập tự do. Nghệ thuật mà nhà văn hướng đến luôn mang đậm yếu tố phương Tây và trên con đường đi tìm ánh sáng lý tưởng đó, Mạc Ngôn luôn không ngừng sáng tạo và khẳng định tên tuổi của mình trong thế giới văn chương.

Minh Minh