Sống và Viết là vấn đề trong suốt cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn trăn trở và đau đáu. Cống hiến hết mình cho sự nghiệp nhưng ít ai biết trước khi được đánh giá và nhìn nhận như một tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực, ông từng có một đời văn âm thầm và lặng lẽ.  

Một vài nét về tuổi trẻ của Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh cuối tháng 10 năm 1917 nhưng cũng có tài liệu cho rằng ông sinh năm 1915. Ông trưởng thành trong một gia đình bậc trung ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam).

Bút danh Nam Cao là ghép hai chữ của tên tổng và huyện mà thành.

Sinh ra trong một gia đình đông con nhưng ông vẫn được học hành tử tế, được gửi xuống Nam Định để học tiểu học và trung học rồi học hết thành chung (Chương trình học chính Pháp – Việt) tuy nhiên do bệnh tật và đau ốm, chưa kịp thi thành chung đã phải trở về quê nhà để chữa trị.

Bén duyên với nghề văn khi mới 18 tuổi

Sau khi trở về nhà chữa bệnh, năm 18 tuổi Nam Cao vào Sài Gòn để kiếm sống, chật vật thử qua nhiều nghề, ban đầu viết văn cũng chỉ vì kế sinh nhai.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Nhà văn Nam Cao – Tranh sơn dầu của Nguyễn Lê Huy

Ông nhận làm thư ký cho một hiệu may và bắt đầu với một vài truyện ngắn như Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Trước khi được biết đến với cái tên Nam Cao, ông từng sử dụng những bút danh khác.

Các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn Một bà hào hiệp được in với bút danh Thúy Rư.

Sau đó, Nam Cao trở về Hà Nội, dạy học ở một trường tư thục ở ngoại ô. Trong thời gian này, ông tiếp tục cho in một số tác phẩm dưới bút danh Xuân Du và Nguyệt.

Đời văn thầm lặng và bản thảo suýt bị bỏ quên

Cái tên Nam Cao lần đầu được sử dụng là qua tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi do Nhà xuất bản Đời mới Hà Nội phát hành năm 1941 và được đón nhận như một hiện tượng mới lạ.

Ban đầu trong bản thảo có tên là Cái lò gạch cũ, cũng suýt nữa bị chính tác giả bỏ quên, đến với độc giả cũng là nhờ nhà văn Vũ Bằng đọc được và đem gửi cho nhà in. Phải đến lần in lại tiếp theo, Nam Cao mới đổi tên lại thành Chí Phèo.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Tập truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi được tái bản nhiều lần

Sau Đôi lứa xứng đôi ông vẫn tiếp tục có nhiều truyện ngắn được in trên Tiểu thuyết thứ Bảy Trung Bắc chủ nhật nhưng vẫn chưa thực sự được nổi bật và gây tiếng vang.

Nam Cao vẫn cứ sống phận đời lay lắt của một trí thức nghèo, chật vật và quay cuồng để có thể vừa sống và viết. Nhiều truyện dài được gửi đi như Ngày lụt, Cái bát, Một đời người nhưng rồi cũng không được in.

Tiểu thuyết Sống mòn hoàn thành trước Cách mạng vào năm 1944 nhưng phải năm năm sau ngày ông mất mới được Tô Hoài gửi bản thảo cho Nhà xuất bản văn nghệ.

Những biến chuyển trong ngòi bút sau Cách mạng tháng Tám của Nam Cao 

Sau năm 1945, văn chương của ông có nhiều thay đổi và chuyển hướng, không tập trung quá nhiều vào các đề tài như người trí thức, người nông dân nữa, ngòi bút của Nam Cao chuyển hướng phục vụ kháng chiến.

Ông gia nhập Hội Văn Hóa cứu quốc vào năm 1943 và là một trong những thành viên đầu tiên. Cách mạng tháng Tám thành công, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở Lý Nhân rồi được cử làm Chủ tịch xã ở địa phương, thời gian này ông có tập truyện ngắn Mò sâm banh.

Sau đó ông hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc tại Hà Nội rồi tiếp tục làm phóng viên ở Nam Bộ, Nam Cao tiếp tục viết các tác phẩm Nỗi truân chuyên của khách má hồng và truyện ngắn Cười, in lại tập truyện ngắn Chí Phèo.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Tuyển tập một số truyện ngắn của nhà văn Nam Cao

Trở lại Bắc, ông chuyển công tác sang Ty văn hóa Hà Nam, viết báo và vẫn miệt mài sáng tác. Nam Cao lên Việt Bắc vào năm 1947, viết Nhật ký ở rừng. Cũng trong thời gian ở đây, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nam Cao tiếp tục công tác và hoạt động, ba năm sau ông chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, rồi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong một lần công tác vào vùng địch hậu ở Liên khu Ba, ông và đồng đội bị địch phục kích và bắn chết, bị dồn vào một hố chôn tập thể vào năm 1951. Hơn bốn mươi sáu năm sau, thi hài của Nam Cao mới được tìm thấy và đưa về quê nhà.

Có một dòng chảy văn học mang tên Nam Cao 

Ông cứ sống và viết một cách âm thầm và lặng lẽ như thế, như con suối nhỏ âm thầm tìm về sông, đổ ra biển.

Trước Cách mạng tháng Tám là hai tập truyện Đôi lứa xứng đôi Nửa đêm, gồm gần sáu mươi truyện ngắn từng được đăng tải trên các báo và một số truyện ngắn khác.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Tập truyện ngắn Những cánh hoa tàn của Nam Cao 

Ngoài ra, ông có hai tiểu thuyết được xuất bản là Truyện người hàng xóm Sống mòn, tiểu thuyết này ban đầu có tên là Chết mòn.

Sau Cách mạng, Nam Cao để lại một số truyện ngắn như Mò Sâm Banh, Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Đôi mắt. Đợi chờ, Trần Cừ, Những bàn tay đẹp ấy, Hội nghị nói thẳng, Định mức.

Trong thời kỳ này, những tác phẩm có giá trị hơn cả của ông phải kể đến các truyện ký cách mạng như Đường vô Nam, Ở rừng (Nhật ký), Từ ngược về xuôi, Trên những con đường Việt Bắc, Bốn cây số cách một căn cứ địch, Vui dân công, Vài nét ghi qua vùng giải phóng.

Các đề tài chính trong văn chương của Nam Cao 

Sinh thời, ông luôn tâm niệm về một con đường, một lối đi khác trong văn chương. Khai thác những đề tài không mới nhưng ông để lại những dấu ấn khác biệt so với những tác giả cùng thời.

Trước Cách mạng tháng Tám, có hai đề tài chính nổi bật trong các sáng tác của Nam Cao, đó là người trí thức nghèo và người nông dân nghèo.

Hình ảnh người trí thức trở đi trở lại trong các tác phẩm của ông, đó là những nhà văn, nhà giáo với kiếp sống lay lắt và đớn đau. Những Điền, những Hộ, những người tưởng như nhỏ bé, lẻ tẻ và chẳng có mối liên hệ gì với nhau.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Trong những trang văn của Nam Cao có những kiếp người sống như chết, lay lắt và đớn đau đến xót xa. 

Nhưng họ lại là đại diện cho những trí thức có gốc rễ nông thôn cùng thời, có hoài bão, có nhân phẩm, luôn khát khao một đời sống tinh thần đẹp đẽ và ý nghĩa. Song một bên là lý tưởng, một bên là gánh nặng mưu sinh, kế sinh nhai, con cái nheo nhóc kéo ghì họ xuống.

Và những “giáo khổ trường tư” ấy cứ phải vật lộn và đấu tranh, dẫy dụa cách nào cũng không thoát ra khỏi cái xã hội đầy ngột ngạt và đớn đau ấy. Sống lay lắt, sống mà nhìn những điều xấu xa tiến chiếm, sống mà như chết rồi.

Còn với đề tài người nông dân nghèo, dù cùng viết về những người khốn khổ trong xã hội, cùng dùng ngòi bút hiện thực miêu tả và tái hiện xã hội cuối thế kỷ XIX nhưng khác với Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan hay Nguyên Hồng, Nam Cao sáng tạo ra một thế giới và góc nhìn khác.

Ông chủ yếu viết về người nông dân nghèo đói xơ xác ở nông thôn Việt Nam đang ngày một băng hoại. Đó là những con người hiền lành, nhẫn nhục nhưng rồi bị xã hội, bị cái nghèo bức đến con đường bần cùng hóa, tha hóa.

Bần cùng hóa và tha hóa là lối đi riêng biệt của Nam Cao khi viết về người nông dân, với ông họ chỉ là nạn nhân của thời cuộc, của những hoen ố và mục ruỗng xếp chồng lưu cữu hết lớp này đến lớp khác.

Trong suốt đời văn của mình, Nam Cao tạo ra được nhiều nhân vật đáng chú ý nhưng nổi bật hơn cả là Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên. Hắn từ một người nông dân lương thiện bị dồn vào đường cùng trở thành nạn nhân và cũng là tội nhân của thời cuộc.

Nam Cao, Nam Cao và đời văn cống hiến thầm lặng
Tạo hình nhân vật Chí Phèo do diễn viên Bùi Cường thủ vai trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy (1982)

Ít có nhân vật nào trong văn học có sức sống lâu bền như thế, tựa AQ của Lỗ Tấn, người ta thấy Chí Phèo lật đật từ trang văn của Nam Cao bước ra, thâm nhập vào đời sống, được tái hiện nhiều lần trong phim ảnh, sân khấu và trở thành một điển hình văn học.

Và sức sống bền bỉ của những tức phẩm 

Không chỉ Chí Phèo, nhiều sáng tác của Nam Cao cũng trở thành cảm hứng cho nhiều bộ phim  điện ảnh, kịch nói, truyền hình, tiểu phẩm.

Trong đó có thể kể đến Làng Vũ Đại ngày ấy, bộ phim được sản xuất năm 1982 bởi đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Phạm Văn Khoa. 

Chuyển thể từ ba tác phẩm Sống mòn, Chí Phèo và Lão Hạc , Làng Vũ Đại ngày ấy đã tái hiện thành công cuộc sống nông thôn trong xã hội thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám, trở thành một trong những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX

Sau Cách mạng tháng Tám, cùng với sự chuyển đổi của ngòi bút, đề tài của ông cũng có nhiều thay đổi, phục vụ kháng chiến, cố gắng ghi lại những chuyển động của sự sống, xây dựng cái mới từ những cái đã cũ.

“Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có…”

Đời thừa – Nam Cao

Như vậy từ những dòng chữ đầu tiên cho đến những trang văn cuối cùng, người ta thấy Nam Cao đã sáng tạo ra một dòng sông riêng biệt cho mình, cũng là hoàn thành những tâm niệm của ông về nghề văn.

Phong cách nghệ thuật của Nam Cao

Trong suốt cuộc đời cầm bút, Nam Cao quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, ông luôn tâm niệm ngòi bút hiện thực của mình phải gắn bó với đời sống, nhìn thẳng vào sự thật và đại diện cho tiếng nói khốn khổ, cùng quẫn của nhân dân.

Đọc văn của Nam Cao, nếu tinh ý sẽ nhận ra chất liệu mà ông dùng chính là cuộc đời của mình và những điều xung quanh. Người ta thấy ở Nam Cao, đời sống và đời văn gắn bó và soi chiếu vào nhau.

Viết nhiều về nỗi khổ của người nông dân đương thời qua những thứ nhỏ nhặt và xoàng xĩnh nhưng đằng sau những con chữ, những điều tưởng như tủn mủn ấy là cả một trữ lượng khổng lồ về con người, về nhân tính và xã hội.

Ở Nam Cao có cái gì đó rất giống với Lỗ Tấn, đều dửng dưng, lạnh lùng và chua chát đến sắc lạnh nhưng ẩn sâu bên trong là một trái tim ấm nóng tình người.

Hải Quỳnh