Nguyễn Huy Tưởng là một trong những gương mặt nổi bật của văn học Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám, người mang cảm hứng ngợi ca tinh thần cũng như sự đấu tranh kiên cường của dân tộc.

Nhà văn đã góp phần làm phong phú thêm cho trang sử hào hùng với nỗi niềm suy tư về một lý tưởng cao đẹp vào tương lai tươi sáng của đất nước.

Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng

Nhà văn sinh ngày 6 tháng 5 trong một gia đình nhà nho, cha là ông Tú nghèo phải sống dựa vào công việc buôn bán của vợ. Năm Nguyễn Huy Tưởng lên bảy tuổi thì đã sớm mồ côi cha, mẹ gửi ông ra Hải Phòng ở cùng với gia đình chị gái và theo học tại trường Tiểu học Bonnal.

Thời còn đi học, Nguyễn Huy Tưởng không ngừng tìm tòi và say mê với những vị anh hùng trong các câu chuyện lịch sử, để rồi nhà văn vẫn luôn đặt ra nhiều câu hỏi lớn cũng như trăn trở về số phận của người dân mất nước. Ông đã từng viết rằng:

“Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cầy ruộng. Cầy với ai cũng được mà cầy ruộng nào cũng được.”

Sau khi đậu bằng thành chung thì Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu học chữ Hán và hưởng ứng sôi nổi các hoạt động yêu nước tại Hải Phòng như treo cờ búa liềm ở chợ Sắt. Năm 1935, nhà văn làm thư ký cho một cơ quan hải quan đồng thời tham gia vào hội Truyền bá quốc ngữ.

Không lâu sau, Nguyễn Huy Tưởng chuyển công tác ra Hà Nội và bắt đầu liên lạc với phong trào Việt Minh rồi tham gia các buổi họp bí mật của Hội văn hóa cứu quốc.

Từ giữa năm 1945 đến sau hòa bình 1954, ông tham gia ban biên tập cho tạp chí Tiên Phong, tờ báo Cờ Giải Phóng và nắm giữ một số chức vụ như Uỷ viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam.

hinh anh chan dung nha van nguyen huy tuong - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh chân dung nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Song song với các hoạt động văn hóa xã hội ấy, ông luôn âm thầm, nỗ lực tìm hiểu về các tác phẩm cổ điển nước ngoài với nhiều thể loại như kịch, tiểu thuyết nhằm trau dồi và làm phong phú thêm cho đời văn cũng như ngòi bút của mình.

Xét đến con đường văn chương thì ông viết nhiều thể loại nổi bật như tiểu thuyết, kịch, truyện thiếu nhi, bút ký hay phim truyện. Bắt đầu với Vũ Như Tô và kết thúc là Sống mãi với Thủ đô vẫn còn dang dở, các tác phẩm đều in đậm dấu ấn tài hoa của một con người luôn tâm huyết với lịch sử nước nhà.

Giáo sư văn học Phan Cự Đệ đã từng nhận định rằng:

“Nguyễn Huy Tưởng đã có công nghiên cứu lịch sử nhưng anh không nô lệ tài liệu lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng đã đi sâu vào đời sống nội tâm, vào đời sống riêng của nhân vật, chứ không phải chỉ trình bày nhân vật trong lúc mang quân phục lịch sử để diễu hành.”

Nguyễn Huy Tưởng là con người thuộc về Hà Nội, các tác phẩm trước cách mạng tháng Tám như Đêm hội Long Trì, An Tư, đặc biệt là kịch Vũ Như Tô của ông đều tập trung vào con người và mảnh đất Kinh kỳ, từ đó nhà văn đã tô đậm những giai đoạn lịch sử ở nơi đây.

Giống với Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô tuy chưa được hoàn thành nhưng nó không chỉ ngợi ca khí thế anh hùng của dân tộc mà còn phản ánh một cách toàn diện cuộc kháng chiến trường kỳ với bao nhiêu mất mát và khó khăn.

hinh anh bia sach luy hoa e1598728507687 - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Lũy hoa

Vừa đi vừa viết nên ông luôn cho ra đời những tác phẩm có tính phù hợp với thời đại và vận mệnh của đất nước. Sau cách mạng tháng Tám, Ký sự Cao Lạng được viết khi Nguyễn Huy Tưởng tham gia chiến dịch biên giới, không lâu sau thì ông tiếp tục với Truyện Anh Lục trong lúc hưởng ứng phong trào cải cách ruộng đất.

Đúng như nhà văn người Nga Nicolaisuyev đã viết rằng: 

“Chỉ có một việc quan trọng nhất là yêu nhân dân, yêu tổ quốc, dùng trí óc và linh hồn để phục vụ.”

Nguyễn Huy Tưởng chính là một con người như thế, ông luôn dành trọn tình yêu cho quê hương, cho đất nước để không ngừng sáng tác nhằm đóng góp vào dòng chảy văn học với đề tài lịch sử. Ngoài ra, một số truyện thiếu nhi của ông như Lá cờ thêu sáu chữ vàng hay Bốn năm sau đều được dịch sang tiếng Trung Quốc.

Với quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, Nguyễn Huy Tưởng luôn hướng ngòi bút đến gần hơn với cuộc đời nhân dân và những vấn đề xã hội. Nhà văn đã lấy lịch sử làm điểm tựa để giúp độc giả thấy được thời kỳ của một đất nước đau thương mà kiên cường đứng lên chiến đấu.

Một mối tình đẹp đẽ với lịch sử nước nhà

Đời văn Nguyễn Huy Tưởng sớm được hình thành khi nhà văn lên mười tám tuổi, sinh ra ở Dục Tú nên ngòi bút của ông chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa quê hương.

Là một người chứng kiến những thăng trầm đi qua trên mảnh đất nghìn năm văn hiến, Nguyễn Huy Tưởng luôn thuộc trong số ít nhà văn chứng minh được tên tuổi của mình khi viết về đề tài lịch sử.

Ngay từ tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong việc tái hiện lại toàn cảnh đất nước ở thế kỷ XVIII, cuốn sách được xem là nền tảng vững chắc để ông có thể từng bước khẳng định chính mình trên văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ.

Đêm hội Long Trì mở ra dưới khung cảnh đêm hội náo nhiệt ở xứ Kinh kỳ, theo ý của chúa Tĩnh Đô thì người dân chỉ có một đêm cho họ được sống tự do, nô đùa theo cách suồng sã nhất mà không cần phải để ý đến tôn ti trật tự. Với một cái nhìn trực diện, Nguyễn Huy Tưởng đã tái hiện lại một xã hội đầy hỗn loạn, không có kỷ cương.

hinh anh bia sach dem hoi long tri e1598728646782 - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Đêm hội Long Trì

Quận chúa Quỳnh Hoa ngay từ khi sinh ra đã sống trong nhung lụa, rất ít tiếp xúc với thế gian nên người như bị đổ bệnh, lúc nào cũng thổ huyết, còn chúa Tĩnh Đô thì hết mực sủng ái Tuyên phi Đặng Thị Huệ mà bỏ bê công việc khiến triều chính càng ngày càng đổ nát.

“Tĩnh Vương chỉ vì say đắm Tuyên phi mà mà làm toàn những điều bất chính, bao nhiêu lời can gian đều vô hiệu cả. Việc gì cũng nghe Tuyên phi, Chúa là người hiếu hạnh thế mà bênh Tuyên phi đến cưỡng cả lời khuyên của Thái phi.”

– Đêm hội Long Trì

Chốn thâm cung ấy được ví như chốn thần tiên, toàn là sinh thú và những cuộc ái tình. Chúa bấy lâu nay vẫn có tiếng ham mê sắc dục, không những làm bao điều bạc đức với dân mà còn phá vỡ hạnh phúc sum vầy, khiến cho cuộc sống của họ đói khổ. Trong tình cảnh ấy, việc mất nước mất nhà dễ như trở lòng bàn tay.

“Cứ để thế này thì hại dân hại nước, thương luân bại lý, không mấy lúc mà loạn.” 

– Đêm hội Long Trì

Chúa Tĩnh Đô vì nghe lời của Tuyên phi mà gả con gái mình cho Đặng Lân ngang ngược và dâm loạn, khiến cho nàng phải gánh chịu biết bao nhiêu là khổ sở. Đến sau này thì cái chết của hắn như một vòng quay nhân quả khi một tay Nguyễn Mại dùng đao chém đầu. 

“Kiếm đã tới gần, Lân rú lên:
– Ta là Cậu Trời
Mại quát:
– Cậu Trời cũng chém!” 

– Đêm hội Long Trì

Cuốn sách được sáng tác dựa trên những tư liệu trong Hoàng Lê nhất thống chíViệt Lam Xuân Thu, từ đó Nguyễn Huy Tưởng đã tái hiện lại được mối quan hệ rối ren giữa Trịnh Sâm với chị em Đặng Thị Huệ.

Nhà văn tạo nên nhân vật Nguyễn Mại như một chân lý, một anh hùng của lịch sử để vẽ nên cái kết hợp tình hợp ý với nhân dân. Không chỉ dừng lại ở vấn đề lịch sử mà Nguyễn Huy Tưởng còn nhắc đến con người lịch sử trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng.

hinh anh bia sach la co theu sau chu vang e1598728803575 - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng

Là một cây bút của Thăng Long Hà Nội, nhà văn đã viết tác phẩm trong phạm vi nhỏ là cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ hai ở thời Trần Nhân Tông với sự góp mặt của những gương mặt lớn như Trần Bình Trọng hay Trần Quốc Toản.

“Chàng muốn có xương đồng da sắt. Chàng muốn xông vào giữa muôn trùng giáo mác, chém tướng giật cờ dễ như trở bàn tay.” 

– Lá cờ thêu sáu chữ vàng

Trần Quốc Toản là con người vung roi quất ngựa luôn tay, mình thì cúi rạp trên yên mà phi nước đại với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường đích báo hoàng ân”. Chàng luôn trăn trở với việc đánh giặc giữ nước, khi quốc biến thì đứa trẻ cũng phải lo, giận đến độ mà bóp nát quả cam chỉ còn trơ bã.

Giai thoại để lại rằng, lúc quân Nguyên kéo sang lần thứ nhất, giặc đi đến đâu thì cỏ không mọc đến đó, ruộng nương trơ trụi, làng mạc cháy hết, người chết như rạ, kinh đô cứ thế mà biến thành tro bụi.

Tưởng chừng điều đó sẽ khiến cho con người ấy nhụt chí nhưng Trần Quốc Toản vẫn kiên quyết muốn đi đánh giặc, thấy quốc nạn mà không đánh thì đấy không phải là chí dũng.

“Lá cờ thêu sáu chữ vàng mỗi lúc một căng lên vì ngược gió.” 

– Lá cờ thêu sáu chữ vàng

Xa xa đằng trước đã thấy rợp trời lá cờ của giặc, gươm giáo dày đặc nhưng trong lòng những quan tướng đất Việt ấy vẫn thề sống chết với lưỡi gươm trên tay, lòng quyết không để bầy lang sói chiếm lấy một tấc. Trần Quốc Toản đánh tan giặc dữ, mang trên mình là áo bào đỏ thắm, cưỡi ngựa trắng xông pha và tràn đầy khí phách.

Nguyễn Huy Tưởng đã gợi dậy trong chúng ta lòng tự hào về một thời Hào khí Đông A với những vị anh hùng hăng say, rạo rực khí thế của năm tháng đánh giặc cứu nước. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng hai chữ “Sát Thát” sẽ không bao giờ tàn phai.

hinh anh bia sach la co theu sau chu vang nguyen huy tuong e1598728929296 - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Lá cờ thêu sáu chữ vàng

Ở những trang văn ấy, nhà văn không chỉ làm tái hiện lại thời kì phong kiến khủng hoảng, vua ham mê tửu sắc, nhân dân đói nghèo khổ sở mà còn khơi dậy trong độc giả lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Trước cách mạng tháng Tám, các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đều dành hết cho đề tài lịch sử, đúng như trong Những trăn trở và khát khao sáng tạo, Mai Hương đã nhận xét rằng: 

“Những suy nghĩ sâu sắc ấy về lịch sử về dân tộc đã góp phần khơi gợi nguồn mạch riêng cho ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng để rồi lịch sử dân tộc mãi gắn bó và trở thành dòng mạch dạt dào, xuyên chảy suốt cả đời viết văn của ông, đến như thành một nỗi ám ảnh, một sự đam mê.”

Lịch sử nước nhà là tâm huyết một đời của Nguyễn Huy Tưởng, không những ở tiểu thuyết, kịch mà còn là truyện thiếu nhi, ngòi bút ấy luôn gắn bó chặt chẽ với vận mệnh đất nước, từ đó ngợi ca truyền thống anh hùng bất khuất với những con người luôn sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cao đẹp.

Đến với hiện thực trong văn chương của Nguyễn Huy Tưởng

Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ mà còn giải phóng cho văn chương nước nhà thoát khỏi trói buộc của những quan niệm cũ, chính sự kiện ấy đã đưa văn học trở về với cội nguồn đích thực là hướng đến đại chúng, đến đời sống rộng lớn của nhân dân.

Ông là một trong những cây bút có đời văn phong phú, góp phần xây dựng sức sống mãnh liệt cho văn học cách mạng nên sau năm 1945, phong cách sáng tác Nguyễn Huy Tưởng đã có sự thay đổi, hòa mình vào không khí hồ hởi của thời đại.

Nhà văn đã có cái nhìn khách quan trong Sống mãi với Thủ đô cùng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, tác phẩm dựng lại toàn bộ quá trình chiến đấu nhưng chưa kịp hoàn thành thì nhà văn qua đời khiến cuốn sách mãi còn dang dở, chính vì thế mà Nguyễn Tuân đã gọi Sống mãi với Thủ đô là đứa con nửa đời nửa đoạn của Nguyễn Huy Tưởng.

hinh anh bia sach song mai voi thu do e1598729031175 - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng

Tác giả đã khái quát được sự khó khăn của cuộc chiến đấu vào mùa đông năm 1946 qua những cuộc hội thảo, quân ta ít, vũ khí lại thô sơ, nhiều người trong đơn vị vì đã quen đánh du kích nên khi về lại Hà Nội thì đầy bỡ ngỡ.

“Võ khí không làm ra được, lương thực không sản xuất được. Không nói cái gì xa xôi, chỉ nói một vấn đề nước thôi. Đánh nhau, ta nhất định phải phá Nhà máy nước, địch nó lúng túng đã đành, nhưng ta, ta sẽ giải quyết như thế nào?” 

– Sống mãi với Thủ đô

Nhiều nhà thuốc không chịu quyên góp thuốc thang chữa trị, vô số kẻ phản động luôn rình rập chờ sơ hở mà đánh sau lưng, cuộc sống gian khổ đào hầm đắp ụ từ nhà này sang nhà khác và tiền thì không có mà gạo cũng thiếu thốn.

Tuy là như thế nhưng những con người Hà Nội vẫn luôn mang trong mình ước mơ về một tương lai tươi sáng, họ sống hết mình vì lý tưởng cao đẹp, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Giữa cái nhục và cái hiên ngang ở lại thủ đô, họ vẫn chọn cái thứ hai như một điều tất yếu trong trái tim. 

“Chúng tôi sẽ noi gương cụ Hoàng Diệu, noi gương những tiên liệt của Đảng ta, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Bộ đội của chúng tôi sang và chiều đều đứng trước cờ làm lễ tuyên thệ sống chết với dinh lãnh tụ.” 

– Sống mãi với Thủ đô

Những con người đầu trần chân đất như vừa bước lên từ ruộng cày ấy, dù trong tay không có một khẩu súng hay viên đạn nào thì họ vẫn luôn kiên quyết mà giữ nhà, giữ phố, chưa bao giờ tình yêu nước, yêu từng tấc đất lại sục sôi mạnh mẽ đến thế.

Với cái nhìn trực diện, Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống dậy một thời kỳ lịch sử đầy bi tráng mà không kém phần hào hùng của dân tộc. Nhà văn khơi gợi lên được ý nghĩa chân thành trong đời sống con người giữa sự sống và cái chết, giữa ách nô lệ và độc lập tự do.

Từ An Tư, Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì đến Sống mãi với Thủ đô đều thể hiện được sự quan tâm và gắn bó của Nguyễn Huy Tưởng với mảnh đất nghìn năm văn hiến.

bia cua cuon sach song mai voi thu do - Nguyễn Huy Tưởng: Một đời văn luôn trăn trở về người và về nước
Hình ảnh bìa sách Sống mãi với Thủ đô

Cái khao khát một đời của ông là dựng lại một Hà Nội trong những tháng ngày đẹp nhất, về cuộc đời mới và cả con người nơi đây. Tuy đến với văn chương khá muộn nhưng bước tiến lại vô cùng vững chắc, Nguyễn Huy Tưởng luôn không ngừng nỗ lực để:

“Tô điểm cho non sông những tòa đài hoa lệ lộng lẫy nhất trần gian.” 

– Vũ như Tô

Với các tác phẩm được đưa vào chương trình giáo dục, Nguyễn Huy Tưởng đã tạo nên những âm vang sử thi hùng tráng hài hòa với chất men say trữ tình lãng mạn. Từ đó, nhà văn đánh thức lòng yêu nước khôn nguôi đối với quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Minh Minh