Chữ người tử tù là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân. Làm sao để phân tích nhân vật Viên quản ngục ăn điểm cao là thắc mắc của nhiều sĩ tử?
1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Nguyễn Tuân sinh năm 1910, mất năm 1987, thọ 77 tuổi. Ông sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê gốc ở Thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã suy tàn. Cha Nguyễn Tuân là Nguyễn An Lan – vốn là một nhà nho yêu nước, tài hoa nhưng phải sống dưới chế độ thực dân phong kiến thối nát. Từ khi còn nhỏ, ông đã ảnh hưởng nhiều từ cha. Tuổi thơ của nhà văn khá vất vả, phải di cư sống ở nhiều tỉnh thành khác nhau, lâu nhất là ở Thanh Hóa.
Năm 1929, khi đang học cuối bậc Thành Chung ở Nam Định thì Nguyễn Tuân bị đuổi học vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối giáo viên người Pháp nói xấu người Việt. Sau sự cố này, ông phải đi tù, đến khi ra tù thì bén duyên với nghiệp viết lách và bắt đầu sáng tác. Đến năm 1941, Nguyễn Tuân bị bắt vào ngục lần 2 và có cơ hội tiếp xúc với nhiều người hoạt động chính trị nổi tiếng. Sau cách mạng tháng 8, ông tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, trở thành ngòi bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Từ 1948 đến năm 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội văn nghệ Việt Nam.
Nói về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Tuân không thành công ngay từ đầu, một số tác phẩm đầu tay không để lại ấn tượng tốt đẹp. Ông từng thử sức với nhiều thể loại: Thơ, truyện ngắn, bút ký, hiện thực trào phúng… Từ 1935, Nguyễn Tuân mới nổi tiếng với các tác phẩm trong Vang bóng một thời. Sau cách mạng tháng 8, ông tích cực phục vụ kháng chiến bằng nhiều trang viết sắc sảo ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân trong lao động, trong chiến đấu. Các tác phẩm chính trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân có thể kể đến như:
- Một chuyến đi
- Ngọn đèn dầu lạc
- Vang bóng một thời
- Thiếu quê hương
- Chiếc lư đồng mắt cua
- Tàn đèn dầu lạc
- Tùy bút
- Tóc chị Hoài
- Chùa đàn
- Tình chiến dịch
- Chú Giao làng Seo
- Đi thăm Trung Hoa
- Tùy bút kháng chiến
- Hà Nội đánh Mỹ giỏi….
Trước cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân gói gọn trong chữ “ngông”. Cái ngông này thể hiện ở chỗ: Ông đi tìm vẻ đẹp vang bóng một thời còn sót lại xoay quanh 3 chủ đề chính: Chủ nghĩa xê dịch, Vang bóng một thời, Đời sống trụy lạc. Tuy nhiên, sau cách mạng, phong cách sáng tác của Nguyên Tuân có sự thay đổi, không có sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, văn của ông vừa mang vẻ đẹp cổ kính vừa trẻ trung, hiện đại. Với những đóng góp to lớn của mình, năm 1996, Nguyễn Tuân được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1

Truyện ngắn Chữ người tử tù ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, xuất bản năm 1939, in trên tạp chí Tao đàn, sau đó tuyển tập in trong tập “Vang bóng một thời”. Bố cục truyện gồm 3 phần:
- Phần 1 từ đầu đến dò ý tứ hắn ra sao rồi sẽ liệu: Nói về cuộc trò chuyện giữa quản ngục, thầy thơ lại với Huấn Cao
- Phần 2: Tiếp đó đến thiếu một chút nữa là ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ: Nói về cách đối xử đặc biệt của Quản Ngục dành cho Huấn Cao
- Phần 3: Cảnh cho chữ
Nội dung truyện xoay kể về nhân vật Huấn Cao, người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nên bị bắt và bị kết án tử hình. Trước khi bị xử chém, ông được đưa đến một nhà tù. Khi đến nhà tù, biết trong danh sách có tên ông Huấn Cao nổi tiếng viết chữ đẹp nên quản ngục và thầy thơ lại đã cho người dọn dẹp phòng giam nơi mà Huấn Cao và những người tử tù khác sẽ ở. Khi ở đây, Huấn Cao được biệt đãi vì sở nguyện của quản ngục là xin được chữ của Huấn Cao.
Ban đầu, khi biết điều này Huấn cao tỏ ra khinh miệt nhưng khi hiểu được tấm lòng của quản Ngục thì ông đã quyết định cho chữ vào đêm trước khi bị xử chém. Cảnh cho chữ diễn ra trong ngục tối, Huấn Cao tay viết như phượng múa rồng bay còn Thầy thơ lại và Viên quản ngục thì khúm núm đứng bên cảnh.
Sau cảnh cho chữ, Huấn Cao khuyên quản ngục nên về quê để giữ thiên lương trong sáng. Nghe lời khuyên, quản ngục kính cẩn nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Qua truyện Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao, một con người tài hoa, khí khách hơn người. Từ đó, tác giả thể hiện quan niệm của mình về cái đẹp và bộc lộ tấm lòng yêu nước thầm kín.
Với nghệ thuật tạo tình huống truyện độc đáo, cách khắc họa tính cách nhân vật, nghệ thuật dựng cảnh, tạo không khí cổ kính, trang trọng, thủ pháp đối lập, ngôn ngữ giàu chất tạo hình đã góp phần làm nên thành công của tác phẩm.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1 Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù: Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa suốt đời đi tìm cái đẹp… Truyện ngắn Chữ người tử tù là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông.
- Giới thiệu khái quát về nhân vật quản ngục…
2.2 Thân bài
a. Tấm lòng biệt nhỡn liên tài
- Quản ngục nói về kẻ tử tù với thái độ kính trọng mà không hề che dấu: Tôi nghe nói chữ Huấn Cao rất đẹp
- Luôn đối đãi chu đáo, thái độ kính trọng khiêm nhường với Huấn Cao trong những ngày ông ở tù
- Biệt đãi Huấn Cao ngay cả khi bị Huấn cao coi thường, khinh bỉ với mong muốn “Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại”
- Quản ngục sai người đem rượu, đồ nhắm đến cho Huấn Cao vì sợ trong ngục tối sẽ rất lạnh với thái độ khép nép: “Thấy ngài là một người có nghĩa khí nên tôi muốn châm chước ít nhiều”.
- Dù Huấn cao tức giận nhưng Quản ngục vẫn giữ sự đối đãi như thế. Quản ngục cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải giã từ cõi đời.
⇒ Thái độ cũng như hành động của Quản ngục cho thấy ông là con người có thiên lương, biệt nhỡn liên tài.
b. Quản ngục là người biết trân trọng và luôn khao khát cái đẹp
- Quản ngục vốn là người đèn sách nên thiên lương tốt đẹp, ông yêu say mê cái đẹp
- Mong ước của ông là được treo ở nhà riêng một đôi câu đối do Huấn Cao viết.
- Ông bất chấp tính mạng, địa vị để đối đãi với Huấn Cao với mong muốn có được mấy chữ của ông Huấn.
- Khi biết Huấn Cao là người “Vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ” nên Quản ngục hết sức lo lắng, nếu không xin được chữ ông Huấn trước khi bị hành hình thì ân hận suốt đời.
⇒ Đó là sở nguyện cao quý chứng tỏ Quản ngục là người biết trân trọng và nâng niu cái đẹp.
c. Cảnh cho chữ là kết tinh của cái đẹp
- Cảnh cho chữ diễn ra trong một không gian đặc biệt: Buồng giam tối tăm, chật hẹp, tấm lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ, cùng hai con người trao cái đẹp, yêu và trân trọng cái đẹp
- Viên quản ngục khúm núm, run run không phải là biểu hiện của sự hèn nhát là là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp
- Lúc này, Quản ngục không còn là người cai ngục nữa mà trở thành người ngưỡng mộ cái đẹp, đồng điệu với Huấn Cao.
- Cuối cảnh cho chữ là hình ảnh Quản ngục cúi đầu vái lạy người tử tù, nước mắt rỉ vào kẽ miệng, tự nhận mình là kẻ mê muội. Đó là sự thức tỉnh của cái đẹp trong cảnh tù ngục, vượt ra khỏi cái tầm thường.
d. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Nghệ thuật tạo tình huống độc đáo
- Thủ pháp tạo cảnh tương phản, đối lập
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
- Tình huống truyện giàu kịch tính.
2.3 Kết luận
- Khái quát lại hình ảnh nhân vật Quản Ngục
- Khẳng định: Đó là nhân vật thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân: Cái đẹp tồn tại cả trong môi trường cái ác và cái xấu nhưng không vì thế mà nó lụi tàn. Thậm chí, cái đẹp càng mạnh mẽ, bền bỉ vươn lên giống như đóa hoa sen giữa đầm lầy.
3/ Viết 1 bài văn mẫu

Chữ người tử tù là tác phẩm xuất sắc nhất trong “Vang bóng một thời” của nhà văn Nguyễn Tuân. Truyện rất thành công trong cách xây dựng nhân vật điển hình và tạo tình huống độc đáo. Ngoài Huấn Cao, hình ảnh viên quản ngục cũng được khắc họa rõ nét. Đó là nhân vật ẩn chứa vẻ đẹp kỳ diệu trong tâm hồn. Thông qua nhân vật Quản ngục, tác giả thể hiện được sự sáng tạo trong sáng tác và tư duy nghệ thuật.
Quản ngục đã lớn tuổi, mái tóc đã điểm hoa râm, khuôn mặt luôn tư lự và nhăn nheo. Ông là người có tính cách dịu dàng, biết đánh giá người khác và luôn trọng người ngay thẳng nhưng số phận không may mắn. Quản ngục được coi là “âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật hỗn loạn, xô bồ”. Ở đây, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật của mình vào trong một tình huống éo le: Tâm điền tốt, tính cách hiền lành, ngay thẳng nhưng lại sống trong cảnh đề lao chỉ có lừa dối, tàn nhẫn. Đó là bi kịch của nhân vật đồng thời cũng là dụng ý của tác giả: Cái đẹp tồn tại giữa cái xấu nhưng không bao giờ mất đi, vẫn vươn lên và tỏa sáng.
Dù sống trong cảnh tối tăm nhưng Quản Ngục vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, cốt cách cao đẹp. Vì thế, khi có phiếu trát gửi đến, biết trong số tử tủ có một người đặc biệt là Huấn Cao khiến ông suy nghĩ cả đêm không ngủ được. Ông nghĩ, việc nhận tù sắp tới ắt sẽ gây nhiều xáo trộn trong tâm tư của mình: Khuôn mặt tư lự dần thay thế bằng mặt nước ao xuân bằng lặng, kín đáo, êm nhẹ. Hình như Quản ngục đang suy nghĩ có nên biệt đãi riêng với tử tù Huấn Cao không. Điều đó khiến khuôn mặt của ông thay đổi: Tư lự, lo lắng sang thanh thản và bình lặng.
Sau nhiều cân nhắc, ông đã quyết định biệt đãi Huấn cao bởi sự say mê cái đẹp và trân trọng cái tài. Có thể, với quyết định này bản thân ông phải đối mặt với nhiều nguy hiểm. Tuy nhiên, không vì thế mà ông lo lắng. Quản ngục tin rằng, nếu mình biệt đãi với Huấn Cao thì sẽ xin được chữ của ông. Đó chỉ là hy vọng mong manh bởi Huấn Cao vốn là người rất khoảnh, hiếm khi ông cho ai chữ trừ một vài người tri kỷ.
Quản ngục hiểu điều đó nhưng vẫn lấy hết dũng khí xin vào gặp Huấn Cao nhưng lại bị coi thường. Quản ngục hỏi Huấn Cao “Ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết, tôi sẽ cố gắng chu tất”. Đáp lại, là lời lẽ khinh bạc, xua đuổi của Huấn Cao “Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Dù thế, ông vẫn cư xử nhún nhường, xin phép lui ra và nói “xin lĩnh ý”. Hành động, thái độ đó là tấm lòng, sự nể trọng của Quản ngục dành cho Huấn Cao.
Ông bộc bạch “Những người chọc trời khuấy nước đến trên đầu người ta người ta còn chẳng biết ai nữa huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lai giữ tù”. Rõ ràng, Quản ngục luôn người biết đánh giá người khác, biết trọng người ngay thắng. Quản ngục hy vọng trong những ngày ở đây, với sự biệt đãi của mình, ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, lúc đó sẽ xin chữ. Với ông, nếu xin được chữ của Huấn Cao thì cả đời này coi như mãn nguyện.
Điều khiến Quản ngục đau đầu nhất là ông Huấn dưới quyền mình nhưng chẳng biết làm cách nào để có thể xin chữ. Ông sợ rằng, ngày kia Huấn Cao bị giải đi xử chém, mình không thể xin chữ thì ân hận cả đời. Ao ước xin chữ của Quản ngục thật thanh cao nên khi chưa xin được chữ ông luôn sống trong tâm trạng lo lắng, thấp thỏm.
Rồi công văn giải Huấn cao ra hành hình cũng được gửi đến, Quản ngục tại ngợt người đi. Nốt đêm nay, ngày mai ông Huấn sẽ phải đi hành hình. Như thế, sở nguyện xin chữ của Quản ngục sẽ chẳng bao giờ thực hiện được. Bên cạnh ông còn có thầy thơ lại cũng mang tấm lòng biệt nhỡn liên tài. Khi biết rõ sở nguyện của Quản ngục, thầy thơ lại đã kể lại nỗi lòng với Huấn Cao. Hiểu thấu tấm lòng và mong muốn của Quản Ngục, Huấn cao nói “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta có biết một người thư thầy Quản đây mà lại có sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”
Chính phẩm giá, nhân cách cao đẹp của Quản ngục đã khiến Huấn Cao cảm kích. Đó là nguyên nhân dẫn đến cảnh cho chữ đặc biệt. “Cảnh cho chữ diễn ra trong phòng giam tử tù và sự kỳ ngộ giữa khách anh hùng tài tử với kẻ biệt nhỡn liên tài”. Trong buồng giam ẩm thấp, chật hẹp, tối tăm đã diễn ra một cảnh tượng kỳ lạ chưa từng có: Trên tấm lụa bạch trắng còn nguyên vẹn lần hồ, mùi mực thơm, những đồng tiền kẽm đánh dấu ô… đã được Quản ngục chuẩn bị đầy đủ và cẩn trọng. Ánh đuốc được thắp lên đỏ rực, ba cái đầu chụm lại chăm chú vào từng nét bút của người tử tủ.
Mỗi chữ Huấn Cao viết xong, Quản ngục lại khúm núm cất đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, còn thầy thơ lại thì run run bưng chậu mực. Mỗi nét chữ được viết ra trên tấm lụa trắng như phượng múa rồng bay. Trước cái đẹp của những con chữ, Quản ngục và tử tù trở thành tri kỷ.
Sau cảnh cho chữ, Huấn cao khuyên quản ngục nên rời chốn này về quê sinh sống may còn giữ được thiên lương trong sạch. Hiểu rõ lời nói của Huấn Cao, Quản ngục vội vái người tử tù một vái, nước mắt rơi xuống và nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Ông nhận mình là kẻ mê muội vì bấy lâu nay sống trong cảnh đề lao tăm tối. Nếu không thoát ra khỏi cảnh này thì nhân cách và thiên lương chẳng thể giữ nỗi. Nhờ ánh sáng của cái đẹp, nhân cách của Huấn Cao đã cảm hóa và khai sáng Quản ngục. Ông không thể sống quãng đời còn lại trong cảnh lao đề, mà quyết định về quê để giữ sự trong sạch và thiên lương.
Với nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, đặt nhân vật của mình vào trong tình huống đặc biệt, sự kết hợp giữa nghệ thuật cường đại, phóng đại, nghệ thuật tương phản…Nguyễn Tuân đã bộc lộ rõ tính cách nhân vật. Thông qua những lời độc thoại nội tâm mà chiều sâu tâm lí nhân vật được khai thác triệt để. Bằng sự kết hợp giữa bút pháp lãng mạn, nghệ thuật tả thực, ngôn ngữ sinh động, linh hoạt, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Quản Ngục. Đó là một con người biết yêu cái đẹp, trân trọng người tài, vẫn giữa được thiên lương trong sáng trong cảnh tù ngục.
Có thể nói, cảnh cho chữ diễn ra thật cảm động và viên Quản ngục là thành công của Nguyễn Tuân trong cách miêu tả và khắc họa nhân vật. Ông đã miêu tả nhân vật của mình từ ngoại hình, ngôn ngữ, tâm tư, tình cảm, cử chỉ, hành động một cách chắt lọc nhất. Quản ngục cũng là một con người tài hoa, con người thức tỉnh, con người vang bóng mà Nguyễn Tuân mong muốn kiếm tìm.





