Chiếc lược ngà là truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng được xuất bản vào năm 1966, cuốn sách đã trở thành biểu tượng thiêng liêng cho tình phụ tử đẹp đẽ đồng thời chứa đựng những ý nghĩa lớn lao mà cuộc sống mang lại.

Nguyễn Quang Sáng và Chiếc lược ngà

Nhắc đến văn học kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1945 – 1975, chúng ta có thể bắt gặp những gương mặt quen thuộc như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng hay Anh Đức và thật thiếu sót khi bỏ qua Nguyễn Quang Sáng, một cây bút gắn bó với số phận con người trong chiến tranh.

Chiếc lược ngà, Chiếc lược ngà: Tên gọi khác của lòng yêu thương
Hình ảnh chân dung nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Nhà văn vẫn thường gọi bản thân là người “xương Nam thịt Bắc” bởi lẽ ông sinh ra và lớn lên ở An Giang nhưng lại có gần hai mươi năm chiến đấu cũng như làm việc tại Hà Nội, Nguyễn Quang Sáng thuộc trong số ít những nhà văn được chứng kiến thăng trầm đi qua trên đất nước.

 

“Tôi trưởng thành ở Hà Nội và chỉ ra đó, tôi mới viết văn được.”

Là cây bút truyện ngắn tài năng kiêm nhà biên kịch, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu sự nghiệp cầm bút vào năm 1952, ông thử mình với nhiều thể loại và có một số tác phẩm nổi bật như Con chim vàng, Đất lửa, Mùa gió chướng hay Dòng sông thơ ấu.

Nguyễn Quang Sáng có văn phong gần gũi, giản dị, nhà văn đã dùng những trang sách để đến gần hơn với nhân dân, xem con người là đồng tâm nhằm ngợi ca tinh thần, phẩm chất tốt đẹp của họ đồng thời qua đó, ông có thể phản ánh được cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc.

Chiếc lược ngà, Chiếc lược ngà: Tên gọi khác của lòng yêu thương
Hình ảnh bìa sách Dòng sông thơ ấu

Trong suốt quá trình cầm bút, Nguyễn Quang Sáng luôn tự hỏi bản thân rằng, liệu mình đã làm tròn trách nhiệm của một nhà văn hay chưa cũng như làm thế nào để có thể ôm trọn được giấc mơ to lớn mà bấy lâu nay nhân dân vẫn thường ao ước.

Văn của Nguyễn Quang Sáng mang đậm hơi thở đồng bằng, cái hồn riêng được phù sa màu mỡ bồi đắp và cả nét chân phương, mộc mạc đặc trưng chỉ con người ở miền sông nước mới có.

Nhà văn luôn lắng nghe tiếng nói của mọi người, từ đó chậm rãi đưa từng câu chuyện đời thật ấy đi vào trong văn chương, chính vì thế khi nói về truyện ngắn Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng đã chia sẻ rằng:

“Năm 1966, tôi từ miền Bắc trở về miền Nam. Vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng. Tôi đi ghe vào sâu trong rừng và sống ở một nhà sàn treo trên ngọn cây. Lúc đó, đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ. Tôi rất có ấn tượng với câu chuyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng. Sau khi nghe cô kể chuyện, tôi ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này.”

Chiếc lược ngà xoay quanh hai nhân vật chính là ông Sáu và bé Thu, con gái của ông, cuốn sách vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp về tình phụ tử thiêng liêng, được đưa vào chương trình giáo dục THCS, tác phẩm đã truyền tải đến độc giả nhiều ý nghĩa nhân văn mà Nguyễn Quang Sáng muốn gửi gắm.

Câu chuyện về tình phụ tử thấm đẫm mùi vị nhân sinh

Bởi lẽ học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có sự thay đổi rõ rệt, cảm hứng đạo đức thế sự dần thay thế cho cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng nên đề tài gia đình đã được đánh thức và trở lại một cách mạnh mẽ, không chỉ xuất hiện ở tiểu thuyết, truyện ngắn mà còn cả tản văn.

Nếu Thời xa vắng là một bi kịch với sự áp đặt và ép buộc của cha mẹ qua giọng văn Lê Lựu hay Ma Văn Kháng tái họa bức tranh cuộc sống thiếu thốn khó nhọc nhưng đầy ắp tình bà cháu trong Côi cút cảnh đời thì Chiếc lược ngà lại luyến tiếc về một thời quá vãng, không thể quay lại để bù đắp và chữa lành.

Câu chuyện về ông Sáu, người chiến sĩ vì chiến tranh mà đã xa nhà tám năm bây giờ mới có dịp về quê thăm con mình là bé Thu. Lúc ông lên đường thì đứa bé mới một tuổi, mỗi lần vợ đến quân doanh không thể dẫn theo con vì sợ nguy hiểm nên ông Sáu chỉ có thể nhìn Thu qua tấm ảnh cũ.

Chiếc lược ngà, Chiếc lược ngà: Tên gọi khác của lòng yêu thương
Hình ảnh bìa sách Chiếc lược ngà

Bấy lâu nay đi lính, nỗi nhớ con cứ thế mà dâng lên, cuộn trào trong lồng ngực, lúc nào ông cũng mong ngóng được nhìn thấy bé Thu dù chỉ một lần vì thế khi đến nơi, xuồng còn chưa cập bến thì ông Sáu đã nhún chân nhảy bật lên khiến chiếc xuồng bị tạt ra xa, ông gọi con.

Trớ trêu thay, tưởng chừng bé Thu sẽ chạy đến mà ôm chầm lấy cha nhưng nó chỉ nhìn ông bằng ánh mắt xa lạ, thấy vết sẹo trên mặt cha thì hoảng hốt bỏ chạy, một tiếng hai tiếng gọi mẹ. Khi chứng kiến cảnh ấy, nỗi nhớ thương con bỗng chốc bị đả kích nặng nề.

“Với vẻ xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lắp bắp run run:

– Ba đây con!

– Ba đây con!”

– Chiếc lược ngà

Về nhà thăm vợ con chỉ được vỏn vẹn ba ngày, trong khoảng thời gian ấy, bé Thu vẫn không chịu nhận ông Sáu là cha cũng không cho ông ngủ với mẹ. Cả ngày ông không đi đâu xa, chỉ ở nhà để cố gắng vỗ về con nhưng nó lại càng xa cách, chính điều đó đã khiến ông Sáu rất khổ tâm.

Suốt những năm tháng đi lính trở về, ông chỉ muốn nghe con gọi mình một tiếng cha, thế mà giờ đây bé Thu lại rất ương ngạnh, không chịu nghe lời.

Lúc gọi vào ăn cơm thì nói trống không, đồ ăn cha gắp cho nó cũng đem hất ra làm văng tung tóe, giận quá ông đưa tay đánh con làm nó hoảng sợ mà chạy qua nhà bà ngoại ở mấy hôm, mẹ sang gọi cũng không chịu về.

Đến ngày cuối cùng ông Sáu vẫn không dám ôm con, chỉ đứng từ xa nhìn nó, lúc chuẩn bị đi để trở về chiến đấu thì bỗng nhiên bé Thu chạy ra rồi gọi cha, một tiếng cha mà bấy lâu nay ông vẫn luôn mong đợi được thốt lên, nó đã xé tan cõi lòng của ông và cả những người xung quanh.

“Tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:

– Ba… a… a… ba!”

– Chiếc lược ngà

Một tiếng gọi được cất lên trong nghẹn ngào xúc động, trong sự đè nén mà bấy lâu nay chỉ được nhìn cha qua bức ảnh cũ. Nó hôn lên tóc, mặt và cả vết sẹo dài bên má, hành động ấy đã thể hiện tình yêu mãnh liệt đang dâng trào của đứa con dành cho cha mình.

Khi tình cảm một lần nữa cuộn trào trong người nó thì cũng là lúc ông Sáu phải khăn gói ra đi, trở lại chiến trường. Ở căn cứ, ông vẫn nhớ lời hứa với con, làm cho Thu một chiếc lược ngà, ông tỉ mỉ làm từng cái răng lược rồi cẩn thận mà khắc xuống với từng nét chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Chiếc lược ngà, Chiếc lược ngà: Tên gọi khác của lòng yêu thương
Hình ảnh bìa của cuốn sách Chiếc lược ngà

Trớ trêu thay, khi quà cho con còn chờ ngày trở về để trao tặng thì ông Sáu đã hy sinh trong một trận càn lớn của Mỹ – Ngụy, những giây phút cuối đời, ông không nói gì thêm chỉ nhìn chú Ba rồi gắng sức lấy ra chiếc lược ngà còn ủ trong túi.

Nguyễn Quang Sáng đặt nhan đề Chiếc lược ngà cho tác phẩm nhằm thể hiện được nội dung cốt lõi mà mình muốn nhắn gửi. Đó chính là kỷ vật mà cha dành tặng con gái, một minh chứng cho vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng, cao cả đồng thời chiếc lược ấy đã trở thành nguồn động lực trong đời để bé Thu có thể làm một cô giao liên đầy dũng cảm.

Những chi tiết đặc sắc trong Chiếc lược ngà đã cho chúng ta thấy được hành trình số phận con người vào những năm tháng bom rơi đạn nổ, Nguyễn Quang Sáng tài tình xây dựng tình huống khiến mạch truyện trở nên hấp dẫn và tinh tế, lời thoại mộc mạc dễ dàng chạm đến trái tim độc giả, gây bao thương nhớ mà lấy đi không ít nước mắt của chúng ta.

Nước mắt và nỗi đau từ chiến tranh

Đọc Chiếc lược ngà, độc giả có thể nhận thấy ông Sáu chính là nạn nhân của chiến tranh, vết sẹo dài trên mặt ấy như một minh chứng rõ rệt cho tội ác mà giặc Mỹ đã gây ra, chúng gieo rắc trên đất nước ta biết bao nhiêu nỗi đau về cả thể xác lẫn tinh thần.

Đó là những năm tháng đen tối không nhìn thấy Mặt Trời, người Việt Nam phải sống bí mật ngay trên chính mảnh đất vốn dĩ thuộc về mình, giống với Số phận con người của Solokhov, chiến tranh tàn khốc đã khiến cho một đứa trẻ có gia đình bỗng chất mất đi tất cả.

“Sống như thế và chết như thế, hỏi vậy làm sao mà chịu được? Chúng ta buộc phải cầm súng.”

– Chiếc lược ngà

Những giọt nước mắt đã rơi nơi cháy rừng lửa đạn không chỉ nói lên sự kiên cường mà còn là đạo đức, ý thức của con người, của cả dân tộc, nó nảy sinh khi tình cảm được trao đi và chính một phút yếu đuối ấy đã trở thành động lực để họ thêm mạnh mẽ, đoàn kết chiến đấu.

Chiếc lược ngà, Chiếc lược ngà: Tên gọi khác của lòng yêu thương
Hình ảnh minh họa cho cuốn sách Chiêc lược ngà

Thế hệ trước phải sống trong những tháng ngày cò không bay thẳng cánh, núi non như hóa thành sông và tiếng bom đạn muốn vỡ tung cả đất trời. Ngày hôm qua nhân dân ta còn vỡ òa khi mùa gặt đã đến, lũ trẻ thì mải mê rong chơi trên cánh đồng bất tận, ngày hôm nay thức dậy chỉ thấy đau thương, quê hương đất nước bỗng trở thành chiến trường.

“Làng nước đâu còn như xưa nữa. Người ta bị rời nhà, bị dồn vào các trại tập trung, rồi người ta lại phá ra, cả vườn tược cũng thay đổi.”

– Chiếc lược ngà

Tuổi nước độc của Dương Nghiễm Mậu là một minh chứng rõ rệt về sự khốc liệt do chiến tranh gây ra, tuổi trẻ mà thế hệ thời lửa đạn trải qua đã bị nhấn chìm trong buổi loạn lạc và nước mắt khóc cho số phận những người khốn khổ, họ bị hút hết nhựa sống, một cơ thể bình thường khỏe mạnh bỗng trở thành tàn phế.

Diễn ra một cách tàn khốc và triệt để, giống với Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, chiến tranh còn giết chết con người từ trong suy nghĩ, tư tưởng. Không chỉ là máu, những tâm hồn mỏi mệt trong tuyệt vọng, trong màn khói của thuốc súng ấy cũng một phần tái hiện nên bức tranh hiện thực về những ngày đen tối.

Giá trị nhân văn cao cả trong Chiếc lược ngà

Giống với Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh, tác phẩm là một hình tượng nghệ thuật chứa đựng tình cảm phụ tử sâu nặng và mãnh liệt, thông qua nhân vật chính, Nguyễn Quang Sáng đã tái hiện lại trước mắt chúng ta bức tranh cuộc sống con người trong chiến tranh.

Đối với bé Thu, chiếc lược ngà không chỉ là nỗi nhớ, kỷ vật đơn sơ của người cha đã mất mà còn thể hiện được nỗi ân hận trong quá khứ, từ đó trở thành một lời thúc giục tinh thần dũng cảm để tương lai có thể bước tiếp trên hành trình chiến đấu còn dang dở.

Chiếc lược ngà trở thành thứ quan trọng để ông Sáu có thể bù đắp cho con vì những tháng năm qua, nó là sợi dây gắn kết tình thương, là biểu hiện của sự nhung nhớ đồng thời là món quà chân tình duy nhất mà người đàn ông đã hy sinh ấy để lại.

Vết sẹo là hình tượng nghệ thuật độc đáo, tuy rằng truyện rất ít khi được nhắc đến nhưng nó vừa là nút thắt đẩy mâu thuẫn lên cao trào đồng thời làm sáng tỏ những khúc mắc trong Chiếc lược ngà, ở những trang cuối cùng, Nguyễn Quang Sáng đã viết rằng:

“Đây chính là lời trăn trối cuối cùng và cũng chính là tình yêu anh để lại trên thế gian, tình yêu ấy là bất diệt.”

– Chiếc lược ngà

Chúng ta thấy được ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng có sự trưởng thành trong từng chi tiết đến mỗi phân đoạn, Chiếc lược ngà không có sự suy tưởng phức tạp, chi tiết và lời văn mộc mạc dễ đi vào lòng người, chính điều đó đã khiến cho tác phẩm trở nên đặc biệt, chân thực mà gây bao xúc động.

Minh Minh