Thương vợ là bài thơ hay, nổi bật mang nặng nỗi niềm của nhà thơ Tú Xương khi phải sống trong bối cảnh xã hội đương thời thối nát. Đó là bài thơ xúc động nhất trong các tập thơ trào phúng của ông. Làm sao để phân tích Thương vợ ăn điểm cao là phân vân của rất nhiều học sinh. Dưới đây là hướng dẫn lập dàn ý chi tiết và bài văn mẫu chọn lọc hay nhất giúp các sĩ tử ăn điểm tuyệt đối trong bài thi môn ngữ văn.
1/ Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích / tác giả /bối cảnh tác phẩm

Tú Xương tên thật là Trần Duy Uyên, đến khi tham gia kỳ thi Hương thì đổi thành Trần Tế Xương, cuối cùng đổi lại là Trần Cao Xương. Ông sinh năm 1870 mất năm 1907, quê tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay thuộc phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định. Tú Xương sinh và và lớn lên trong buổi đầu của chế độ thực dân nửa phong kiến, đất nước rơi vào tay Pháp. Nam Định – nơi nhà thơ sinh sống là bức tranh điển hình của xã hội Việt Nam ở thời điểm giao thời với đủ cảnh ô hợp, nhố nhăng, cười ra nước mắt.
Vốn là người cá tính, có chút lập dị, ưa phong cách sống phóng túng, ghét sự giả dối, gò bò, có lẽ vì thế mà con đường khoa bảng của ông gập ghềnh. Cuộc đời Tú Xương gian truân, lận đận và ngắn ngủi. Vốn tài giỏi nhưng ông lại phải trải qua nhiều lần thất bại trong thi cử. Mãi đến năm 1894, Tú Xương mới đậu tú tài khoa Giáp Ngọ.
Tuy đời người và đời thơ ngắn ngủi nhưng ông đã để lại cho hậu thế nhiều sáng tác có giá trị cao với hơn 100 bài gồm: Thơ trào phúng, thơ trữ tình và phú. Tú xương được xem là bậc thầy thơ trào phúng trong nền văn học Việt Nam đương đại.
Phong cách thơ Tú Xương là trào phúng, châm biếm cay độc, dữ dội và ẩn đằng sau là sự xót xa, bi thương cho chính bản thân và những nho sĩ chân chính cùng thời. Sáng tác của ông gồm hai mảng: Trữ tình và trào phúng nhưng thực chất trữ tình mới là gốc rễ, còn trào phúng chỉ là cành lá. Thơ Tú Xương bắt nguồn từ tâm huyết với đời, với dân, với nước.
Thương Vợ là bài thơ xúc động nhất trong chùm thơ văn câu đối viết về đề tài bà Tú. Với thể thơ thất ngôn bát cú, ngôn ngữ gần gũi, bình dị, hình ảnh chân thực “con cò”, tác giả đã làm nổi bật cuộc sống lam lũ của người vợ tảo tần. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của chính tác giả mà còn là nỗi niềm chung của tầng lớp trí thức nghèo lớn lên trong hoàn cảnh xã hội đen tối, nhiễu nhương. Từ hình ảnh bà Tú trong thơ, Tú Xương thể hiện sự đồng cảm với số phận của những người phụ nữ Việt Nam ở thời buổi loạn lạc.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về nhà thơ Trần Tế Xương: Tên thường gọi là Tú Xương hoặc Tú Mỡ. Ông là ngòi bút tiêu biểu nhất trong nền văn học Việt Nam đương thời viết về chủ đề hiện thực và trào phúng. Dù tài hoa nhưng cuộc đời của gian truân, ngắn ngủi…
– Giới thiệu về bài thơ: Thương vợ là sáng tác nổi bật trong hơn 100 bài thơ và phú của tác giả. Với tình cảm yêu thương chân thành, Tú Xương đã thể hiện một cách xúc động nhất hình ảnh người vợ chịu thương, chịu khó, giàu đức hy sinh. Qua đó, thể hiện nỗi niềm của tác giả về cuộc đời và số phận của những người phụ nữ trong xã hội cũ.
2. 2. Thân bài
a. Về đề tài và bố cục bài thơ
Thơ xưa hiếm có những sáng tác về vợ, đặc biệt, thơ viết về vợ khi họ đang còn sống lại càng ít ỏi hơn. Tú Xương lại khác, trong cuộc đời sáng tác của mình, ông dành hẳn một đề tài lớn viết về bà Tú – người vợ tảo tần. Chủ đề viết về vợ của Tú Xương gồm cả thơ, văn tế và câu đối. Đây là bài thơ hay nhất, cảm động nhất của ông..
Bố cục bài thơ ngắn gọn, rõ ràng gồm: Đề, thực, luận, kết. Chúng ta cũng có thể phân chia theo cách khác: Sáu câu đầu viết về hình ảnh bà Tú, hai câu thơ cuối thể hiện nỗi niềm của tác giả.
b. Phân tích chi tiết:

– Hình ảnh bà Tú:
+ Hai câu đầu (2 câu thực): Miêu tả cụ thể về cuộc sống tảo tần, lam lũ với công việc buôn bán ngược xuôi quanh năm của bà Tú “Quanh năm buôn bán ở mom sông/Nuôi đủ năm con với một chồng”
- Công việc chính của bà là buôn bán
- Thời gian quanh năm triền miên từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, không bao giờ được nghỉ ngơi
- Địa điểm buôn bán là mom sông, tức phần đất ở bờ sông nhô ra lòng sông. Nơi đây, dân làng chài thường tụ tập mua bán. Chữ “mom sông” gợi lên cảm giác chông chênh, chơi vơi, cuộc đời dài dầu mưa nắng, phải vật lộn kiếm sống.
- “Nuôi đủ năm con với một chồng”: Làm bật nổi gánh nặng gia đình đè lên vai người phụ nữ, người vợ, người mẹ. Cách diễn đạt của tác giả: tách thành 2 phần: 5 con/1 chồng ẩn chứa sự chua chát ẩn sâu trong lòng tác giả. Ông cảm thấy bất lực vì bản thân là trụ cột gia đình nhưng tất cả lại phải đề người vợ gồng gánh, còn mình thì phải ăn nhờ vào sự ngược xuôi của vợ.
+ Hai câu đề: “ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
- Tú Xương thấm thía nỗi gian lao, vất vả của vợ nên mượn hình ảnh thân cò để ngầm so sánh. Trong ca dao, tục ngữ: Con cò gắn liền với cuộc sống lầm lũi nay đây mai đó để kiếm sống. Bà Tú cũng thế, phải chạy vạy buôn bán quanh năm để nuôi con, nuôi chồng. Số phận của bà Tú cũng chính là số phận của rất nhiều người phụ nữ khác trong xã hội cũ.
- “Khi quãng vắng”: Diễn tả sự heo hút, vắng lặng với rất nhiều nguy hiểm rình rập. Bà Tú lo âu và biết rõ sự nguy hiểm đó nhưng vẫn chấp nhận bởi gánh nặng cơm áo.
- Ở câu đề, tác giả sử dụng phương pháp đảo ngữ, đưa động từ lên đầu câu, đứng trước danh từ nhằm làm bật nỗi sự vất vả của người vợ. Theo thông lệ, chúng ta sẽ viết: Thân cò lặn lội. Trong thơ Tú Xương câu thơ được chuyển đổi thành: Lặn lội thân cò. Hình ảnh thân cò được tác giả sử dụng thay cho “con cò” càng làm người ta thấm thía, ngậm ngùi về số phận của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội. Lời thơ trở nên sâu sắc, thấm thía, buồn thương.
- “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”: Eo sèo là từ láy có tính tương thanh cao muốn nói đến sự kì kèo, kêu ca, phàn nàn, khó chịu. Ẩn đằng sau câu chữ đó là bức tranh buôn bán bán khó khăn với những lời cãi vã nặng nhẹ nơi mặt nước. Vì gia đình, người vợ phải chen chúc, bươn chải buôn bán trên sông nước mà không màng đến vất vả, hiểm nguy.
- Trong 2 câu đề, nghệ thuật đối được tác giả sử dụng một cách đặc sắc góp phần thể hiện một cách chân thực nhất cảnh kiếm sống cơ cực của bà Tú. Bà phải lặn lội bất luận nắng hay mưa để giành giật miếng cơm manh áo trong thời buổi nhiễu nhương.
+ Hai câu luận: “Một duyên hai nợ âu đành phận/Năm nắng mười mưa dám quản công”
- Một duyên hai nợ – năm nắng mười mưa vốn là hai thành ngữ trong ca dao dân ca nay được Tú Xương vận dụng một cách tài tình, tạo ra sự cân xứng hài hoà giúp biểu đạt tối đa sự thương cảm đối với người vợ, người phụ nữ trong xã hội cũ.
- “Duyên” ở dây là duyên phận, duyên số. Nợ là gánh nặng mà đời bà Tú phải chịu đựng. Nắng – mưa tượng trưng cho những nhọc nhằn, vất vả. Số từ trong câu thơ tăng dần lên: Một, hai, năm, mười… cho thấy sự hy sinh thầm lặng của người vợ, họ phải nỗ lực, cố gắng và cố gắng không biết mệt mỏi để lo cho con, cho gia đình.
- “Âu đành phận – dám quản công”: Giọng thơ trở nên buồn thương, xót xa. Tác giả thương vợ, thương mình, thương cho hoàn cảnh gia đình éo le
Có thể nói, với 6 câu thơ ngắn gọn, tác giả đã thể hiện rõ nét, chân thành sự biết ơn và cảm phục đối với người vợ. Hình ảnh khắc họa chân chất, bà Tú hiện lên trong thơ với nhiều đức tính đáng quý: Đảm đang, tảo tần, hy sinh thầm lặng.
– Nỗi lòng tác giả
+ Qua việc tái hiện hình ảnh người vợ người đọc thấy thấp thoáng bóng dáng ông tú và nỗi niềm đau đau. Tú Xương là người chồng biết yêu thương vợ con, biết trân trọng tình nghĩa vợ chồng.
+ Tình thương ông dành cho vợ được thể hiện gián tiếp qua hình ảnh ẩn dụ: “Lặn lội thân cò”, “Nuôi đủ năm con với một chồng”, đó là lời khen Tú Xương dành cho vợ, dù buôn bán khó khăn nhưng vẫn tất bật ngược xuôi để chồng con không rơi vào tình cảnh đói khổ.
+ Lời tự trách: “Một duyên hai nợ” cho thấy ông là người có nhân cách cao đẹp. Tác giả tự nhận mình là món nợ của vợ nên vợ phải gánh chịu.
+ 2 câu kết: Tác giả sử dụng ngôn ngữ thông tục giống như là tiếng chửi vào cái nhiễu nhương của xã hội đương thời “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/Có chồng hờ hững cũng như không”. Ngụ ý của Tú Xương trong câu thơ là thầm trách bản thân vô dụng, một kẻ ăn bám vợ. Đó cũng là số phận chung của nhiều nho sĩ chân chính trong buổi giao thời. Cái đáng quý, đáng trân trọng của Tú Xương là dám nhìn nhận vào thực tế, dám nhận mình là “Quan ăn lương vợ”. Điều đó cho thấy tác giả là người trung thực, thẳng thắn, nhân cách cao đẹp. Đọc bài thơ ta thấy rất rõ tình thương của tác giả dành cho người vợ của mình, qua đó thể hiện nỗi đau của bản thân khi cảnh đời thay đổi
2.3. Kết luận:
– Khái quát lại nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
– Nêu cảm nhận của bản thân về giá trị và thông điệp của bài thơ
3/ Viết 1 bài văn mẫu

Nói đến thơ văn trào phóng không thể không nhắc đến Tú Xương. Đó là ngòi bút châm biếm, đả kích sắc bén, sâu cay, quyết liệt…. Ông là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa điển hình khó ai có thể qua mặt. Ngoài những bài thơ châm biếm, lấy tiếng cười để phê phán, đả kích xã hội đương thời, Tú Xương còn có nhiều bài thơ cảm động, chất chứa nỗi niềm của một nhà nho nghèo nặng tình đời. “Thương vợ” vừa là một bài thơ trữ tình đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bao trùm tác phẩm là tình cảm của tác giả đối với người vợ tảo tần. Qua đó, thể hiện nỗi niềm của một nhà nho nặng tình với người với đời.
Cái thú vị và độc đáo của bài thơ nằm ngay ở tiêu đề và cấu trúc. Nếu thơ xưa ít có người viết về vợ, đặc biệt là người vợ đang sống thì Tú Xương lại làm điều đó. Ông dành hẳn một một đề tài lớn để viết về bà Tú. Nhà thơ không đi theo lối mòn cũ của thế hệ trước và và thế hệ đương thời, mà tự tìm thấy cho mình cội nguồn sáng tạo ngay trong chính cuộc sống thực tại. Vì lẽ đó mà người ta nói: Tú Xương là nhà thơ của chủ nghĩa hiện thực điển hình.
Kết cấu bài thơ “Thương vợ” ngắn gọn, rõ ràng với hai mạch cảm xúc chủ đạo. 6 câu đầu (Hai câu đề, hai câu thực, 2 câu luận) tác giả dành để viết về người vợ. Hình ảnh bà Tú hiện lên là người phụ nữ tảo tần, thương chồng, thương con, giàu đức hy sinh “Quanh năm buôn bán ở mom sông/Nuôi đủ năm con với một chồng/Lặn lội thân cò khi quãng vắng/Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
“Quanh năm buôn bán” có nghĩa là làm ăn vất vả từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác không bao giờ được nghỉ ngơi. Bà Tú buôn bán ở “mom sông” – đó vốn là mỏm đất nhô cao bên bờ sông, nơi có nhiều người qua lại. Hình ảnh “Mom sông” gợi lên hình ảnh về một người phụ nữ phải dãi dầm mưa nắng, bươn chải kiếm tiền để nuôi gia đình. Câu thơ tách làm đôi sao mà chua chát: 5 con/1 chồng. Nhà thơ thấy xót xa, thấy xấu hổ vì bản thân trở thành gánh nặng của vợ.
Hình ảnh: Thân cò chứ không phải con cò làm nổi bật những nhọc nhằn của bà Tú. Con cò là điển tích thường xuất hiện trong thơ xưa nay được Tú Xương tái sử dụng nhưng theo một cách khác với nhiều hàm nghĩa sâu xa. Thân cò gợi lên sự vất vả, buồn, cô đơn, hiu quanh, ẩn đằng sau đó là sự xót xa của Tú Xương đối với số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Ở đây, nhà thơ sử dụng phương pháp đảo ngữ: đặt động từ lên trước danh từ: Lặn lội thân cò nhằm nhấn mạnh sự nhọc nhằn thay vì cách viết thông lệ: Thân cò lặn lội. Đó là sự độc đáo, tài tình của Tú Xương trong cách viết và cách dùng từ. Nó như một nét chấm phá làm cho cảm xúc trong thơ vụt lên: Lặn lội – thân cò – khi quãng vắng.
Từ láy “Eo sèo” vốn là từ láy tượng hình gợi lên cảnh mua bán cạnh tranh, cãi vã nơi mặt nước vào buổi đò đông. Cuộc đời bà Tú phải lặn lội sớm hôm bởi tình thương và trách nhiệm với gia đình. Nghệ thuật đối được tác giả khai thác một cách tài tình: 5 con/một chồng, hàm chỉ gánh nặng cơm áo đề lên cả hai vai người vợ. Trong thời buổi loạn lạc, bà Tú phải giành giật, phải năm nắng mười mưa để kiếm miếng cơm, manh áo.
“Một duyên hai nợ, âu đành phận/Năm nắng mười mưa dám quản công”, chữ “duyên” trong câu thơ là duyên phận, duyên số là cái “nợ” mà bá Tú phải chịu đựng. Số phận của bà cũng chính là số phận của rất nhiều người phụ nữ trong xã hội cũ. 2 từ nắng – mưa là cách nói ẩn ý của tác giả về những vất vả mà vợ mình phải gánh chịu. Số từ trong câu thơ tăng dần: một, hai, năm, mười… đã diễn tả rất rõ gánh nặng trên vai bà Tú ngày một nhiều hơn. Tác giả thầm biết ơn sự hy sinh thầm lặng đó..
“Âu đành phận”. “dám quản công” nghe sao xót xa, buồn tủi. Tác giả đau lòng, xót thương cho hoàn cảnh éo le của vợ đồng thời cũng sự xót thương cho mình. Chỉ bằng vài nét phác họa chân thật, nhà thơ đã gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh người vợ thảo hiền, tảo tần, chịu thương, chịu khó, sẵn sàng hy sinh vô điều kiện. Từ láy, số từ, thành ngữ, phép đối được Tú Xương khéo léo đưa vào thơ có sức lay động lớn tới trái tim người đọc.
Hai câu kết “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/Có chồng hờ hững cũng như không”, đến đây, ngòi bút châm biếm, đã kích của nhà thơ bộc lộ rõ. Ông sử dụng từ ngữ thông tục để viết thơ nhưng đó chính là tiếng chửi thẳng vào bộ mặt xã hội đương thời. Tú Xương trách mình ăn bám vợ mà lại “ăn ở bạc”. Nhà thơ ý thức được rằng: Người đàn ông, người cha là trụ cột trong gia đình, đáng lẽ phải gánh vác mọi việc thay vợ. Còn ông, không giúp ích được gì “Có chồng hờ hững cũng như không”
Câu thơ thốt lên nghe chua cay và xót xa, Tú Xương ý thức được trách nhiệm của mình nhưng “lực bất tòng tâm”, công danh trắc trở, thi cử lận đận, dù bản thân ông là người tài năng. Trong cái xã hội dở tây, dở ta thì số phận của những người như Tú Xương thật đáng thương, ngay cả ông Nghè, ông Cống cũng phải nằm co.
Đọc câu thơ ta biết tác giả đang tự trách mình nhưng đồng thời cũng là trách cuộc đời bạc bẽo. Hai câu kết bài thơ là nỗi lòng là sự day dứt khôn nguôi của Tú Xương về cuộc đời của mình, của những người trí thức yêu nước, thương dân nhưng không thể làm gì. Có thể nói, từ hiện thực cuộc sống, từ tình cảm yêu thương, trân trọng, cảm phục đối với người vợ, ông đã viết nên những vần thơ chất chứa nỗi niềm. Thương vợ cũng chính là thương cho chính bản thân mình. Sự bất lực của nhà thơ trước cảnh đời thay đổi khiến người đọc thấy đau lòng.
Thương vợ là bài thơ hay được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Hình ảnh trong thơ gợi cảm, hàm súc, ngôn từ gần gũi, mộc mạc giúp Tú Xương khắc hoạ thành công hình ảnh người vợ. Trong thơ, bà Tú hiện lên là người mẹ, người vợ chịu thương, chịu khó, giàu đức hy sinh. Bài thơ không chỉ có tình thương mà còn là nỗi đau của nhà thơ trước cuộc đời và số phận của những người phụ nữ trong xã hội cũ. Với tất cả sự chân thành và yêu thương, với con mắt tinh tế, ngòi bút chân thực, sâu cay, thơ Tú Xương nói chung và bài thơ Thương vợ nói riêng luôn khiến người ta đau đáu.





