Phân tích Ánh trăng của Nguyễn Duy chọn lọc hay nhất

Ánh trăng là bài thơ hay của tác giả Nguyễn Duy. Làm sao để phân tích Ánh trăng ăn điểm cao? Dưới đây là hướng dẫn lập dàn ý và bài văn mẫu hay nhất.

1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

 

Đôi nét về tác giả Nguyễn Duy
Đôi nét về tác giả Nguyễn Duy

Tác giả Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê tại Đông Vệ, Đông Sơn, Thanh Hóa, nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa. Mẹ mất sớm nên từ nhỏ ông sống cùng bà ngoại ở Đông Vệ. Năm 1965, Nguyễn Duy nhận chức tiểu đội trưởng một tiểu đội dân quân thực chiến ở cầu Hàm Rồng. Năm 1966, ông chính thức nhập ngũ và trở thành lính đường dây của bộ thông tin. Từ đây, tài năng thơ văn của Nguyễn Duy bộc lộ rõ nét.

Từ 1971 đến 1975, ông được phân công về học tại khoa Ngữ văn thuộc trường đại học Tổng hợp Hà Nội dù đang khoác áo lính. Năm 1973, tác giả vinh dự được nhận giải nhất cuộc thi thơ do tuần báo Văn nghệ tổ chức chức với bài thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Tre Việt Nam. Năm 1975, Nguyễn Duy cùng đơn vị của mình vào tiếp quản Vũng Tàu. Từ năm 1976, tác giả chuyển về công tác và sinh sống tại thành phố Hồ chí Minh. Ông là biên tập viên của báo Văn nghệ Giải phóng, sau đó là Trưởng đại diện của báo Văn nghệ ở khu vực miền Nam.

Nói về sự nghiệp thơ văn, Nguyễn Duy bắt đầu làm thơ từ khi còn theo học tại trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa. Khoảng thời gian đi lính, ông tiếp tục sáng tác và cho ra đời nhiều tác phẩm hay, trở thành gương mặt tiêu biểu của giới văn nghệ sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.

Ngoài thơ, Nguyễn Duy còn viết truyện, tiểu thuyết, bút ký. Năm 2007, tác giả được nhà nước trao tặng giải thưởng về Văn học nghệ thuật nhờ những đóng góp to lớn của mình. Thơ của ông trầm tĩnh, giàu cảm xúc, có một số bài thơ mang phong cách ngang tàng. Các tác phẩm tiêu biểu trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Duy có thể kể đến như:

  • Thơ: Cát trắng gồm 50 bài, Ánh trăng gồm 33 bài, Đãi cát tìm vàng 38 bài, Mẹ và em, Đường xa, Quà tặng, Về, Sáu và Tám, Tình tang, Vợ ơi, Bụi, Quê nhà ở phía ngôi sao, Tuyển tập thơ lục bát….
  • Thể loại khác: Kịch em – sóng, tiểu thuyết Khoảng cách, Bút ký: Nhìn ra bể rộng trời cao, Ký: Tôi thích làm vua, ghi và nhớ.
Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

 

Bài thơ Ánh trăng được sáng tác vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, rút ra từ tập thơ cùng tên của Nguyễn Duy. Bố cục bài thơ gồm 3 phần:

  • 3 khổ thơ đầu: Là hồi ức của tác giả về vầng trăng đã từng gắn bó với thời thơ ấu và thời chiến tranh
  • Khổ thơ thứ 4: Bất ngờ điện mất, ký ức về ánh trăng ùa về
  • Hai khổ cuối: Tác giả thức tỉnh và cảm thấy hối hận vì bản thân đã lãng quên vầng trăng

Qua bài thơ, tác giả muốn nhắc nhở về một đạo lý quan trọng ở đời: Uống nước phải nhớ nguồn. Ánh trăng của Nguyễn Duy đã tái hiện lại những năm tháng gian khổ, gắn bó với đồng đội, với nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ. Từ đó, ông muốn gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp: Con người ta dù sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào đều cần phải thủy chung, trọn vẹn nghĩa tình, không được lãng quên quá khứ và cội nguồn bởi đó là một phần nhân cách con người.

Bài thơ viết theo thể thơ 5 chữ ngắn gọn, linh hoạt, giọng điệu tâm tình, giản dị. Tác giả đã khéo léo kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình giúp cho mạch thơ trở nên tự nhiên, sâu lắng. Hình ảnh vầng trăng xuất hiện trong thơ không chỉ là biểu tượng của nghĩa tình thủy chung, của quá khứ tươi đẹp mà còn ẩn chứa chiều sâu cảm xúc, triết lý nhân văn trong thơ của Nguyễn Duy.

2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

Lập dàn ý phân tích bài thơ Ánh trăng
Lập dàn ý phân tích bài thơ Ánh trăng

 

2.1 Mở bài

– Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Duy: Là nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Sau năm 1975, ông tiếp tục sáng tác với cái nhìn sâu sắc, đa chiều, gần gũi với cuộc sống

– Đôi nét về bài thơ Ánh trăng: Được sáng tác năm 1978, viết về hình ảnh quen thuộc trong thi ca là ánh trăng nhưng mang hơi thở của cuộc sống hiện đại, ẩn chứa nhiều suy tư và chiêm nghiệp nên ý nghĩa của ánh trắng trở nên khác biệt với trăng trong thơ cổ.

2.2 Thân bài

a. Con người ở quá khứ: Sống hòa mình với thiên nhiên, vầng trăng là tri kỷ

  • Lúc nhỏ, sống với đồng, với sông, với bể, cuộc sống vui tươi, hồn nhiên
  • Trong chiến tranh, cuộc sống ở rừng thiếu thốn, khó khăn nhưng vẫn yêu đời, lãng mạn vì có trăng làm bạn tri kỷ
  • Hình ảnh trăng trong quá khứ là vầng trăng tình nghĩa, trăng là bạn, mang theo bao hy vọng: Trăng theo chân con người trong những buổi hành quân dài mệt mỏi, trăng soi sáng đường đi vào những đêm tối, trăng mang lại cảm giác an ủi, bình yên như người thân vậy

⇒ Khổ thơ cho thấy, thiên nhiên đã nuôi dưỡng tâm hồn con người trở nên trong trẻo, hồn nhiên, yêu đời, sống vô tư, không tính toán thiệt hơn. Trong khó khăn, trăng là bầu bạn, con người biết sống đùm bọc, chia sẻ với nhau…

b. Con người ở hiện đại lãng quên quá khứ

  • Sống ở thành phố với đầy đủ tiện nghi: Ánh điện qua gương, nhà cao tầng
  • Ánh trăng hiện tại dửng dưng như người qua đường, ánh trăng trở nên bé nhỏ và xa lạ. Ở đây, tác giả sử dụng thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa hai khổ thơ đầu và khổ thơ thứ ba để nhấn mạnh sự khác biệt, sự thay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh sống và sự thay đổi của lòng người.

c. Sự đối diện giữa trăng và người

  • Bối cảnh: Mất điện đột ngột, những tiện nghi của cuộc sống hiện đại không thể phát huy tác dụng, con người bắt đầu nhớ đến quá khứ: Nhân vật trữ tình mở cửa sổ và thấy vầng trăng tròn tỏa sáng.
  • Nhân vật trữ tình đối diện với vầng trăng như đang đối diện với chính mình, với quá khứ: Tư thế ngửa mặt nhìn lên mặt, vầng trăng gợi nhớ về quá khứ: Đồng, bể, sông, rừng… nơi từng gắn bó với tuổi thơ, những năm tháng chiến đấu ác liệt đều có trăng làm bầu bạn
  • Cảm xúc của nhân vật trữ tình lúc này: Trăng là hiện thân của quá khứ, của tuổi thơ, của những năm tháng chiến đấu anh dũng, gian khổ nhưng rất đỗi tự hào để con người có cuộc sống hòa bình, tự do, đầy đủ như hôm nay. Con người ta say mê hưởng thụ cuộc sống mới mà vô tình lãng quên quá khứ, đến khi nhìn lại thấy vô cùng hối hận vì bản thân đã đánh mất một phần ký ức quan trọng.

d. Lời nhắc nhở và sự thức tỉnh của con người

  • Trăng vẫn tròn, vẫn bao dung, tha thứ, không trách móc chi kẻ vô tình
  • Nhân vật trữ tình thức tỉnh: Dù không ai trách móc nhưng tự bản thân anh nhận ra sai lầm của mình vì đã bỏ quên quá khứ
  • Liên hệ và so sánh với câu thơ nổi tiếng của Gamzatov: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”

2.3 Kết luận

– Khái quát giá trị bài thơ: Vầng trăng trong thơ Nguyễn Duy là nhân chứng lịch sử đã chứng kiến tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ

– Bài thơ giàu tính triết lý, nhắc nhở con người không được lãng quên quá khứ, phải sống với lòng biết ơn sâu sắc, xem đó là động lực để phấn đấu cho tương lai.

3/Viết 1 bài văn mẫu

 

Bài văn mẫu phân tích Ánh trăng của Nguyễn Duy
Bài văn mẫu phân tích Ánh trăng của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ với nhiều bài thơ hay viết về những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng rất đỗi tự hào. Sau chiến tranh, ông tiếp tục chắp bút, thơ văn Nguyễn Duy giản dị, gần gũi, suy tư, chiêm nghiệm, triết lý sâu sắc về con người và cuộc đời. Ánh trăng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ và hồn thơ Nguyễn Duy. Tác phẩm ra đời năm 1978, là sự thức tỉnh, là lời nhắc nhở chính bản thân và người đọc về đạo lý: Ân nghĩa, thủy chung, uống nước nhớ nguồn.

Bài thơ được viết theo trình tự thời gian: Quá khứ đến hiện tại. Cảm xúc của nhà thơ cũng có sự chuyển biến theo mạch thời gian đó. Mở đầu bài thơ là những kỷ niệm đẹp, gắn bó giữa con người với vầng trăng trong quá khứ:

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ

 Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”    

Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, tác giả đưa người đọc trở về miền ký ức trong quá khứ: Lúc nhỏ đến lúc trưởng thành đến khi trở thành người lính trên chiến trường. Trong khoảng thời gian đó, ánh trắng là người bạn tri kỷ: Tất cả đều thấm đẫm ánh trăng. Hồi ở nhà, đắm mình với đồng ruộng, với sông bể quê hương, vầng trăng cùng ta lớn lên, ghi dấu bao kỷ niệm.

Đến khi trưởng thành, nhập ngũ, xông pha trận mạc, sống nơi núi rừng bát ngát, ánh trăng ấy vẫn theo ta, ấm áp, hiền hòa. Vầng trăng trở thành người bạn tri kỷ, tình nghĩa, là nhân chứng cho những năm tháng chiến đấu hào hùng. Trăng là minh chứng cho sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên.

Nguyễn Duy đã khéo léo nhân hóa ánh trăng như con người. Trăng trở thành người bạn tuyệt vời cùng chia sẻ buồn vui, cùng đồng cam cộng khổ cùng người lính vượt qua gian khổ, mất mát trong chiến tranh. Đọc bài thơ Ánh trăng ta thấy sự gắn bó mật thiết giữa thiên nhiên với con người: Sống trần trụi với thiên nhiên, hồn nhiên như cây cỏ, sống giản dị và thanh thản.

Trăng trong quá khứ gắn bó, cham hòa, đằm thắm nghĩa tình. Thế nhưng, cuộc sống đủ đầy của hiện tại đã làm người ta quên đi người bạn tri kỷ của tuổi thơ, của những năm tháng chiến đấu gian khổ. Nhìn lại, nhân vật trữ tình thấy hối hận và tự thẹn với lòng mình: Phải giữ tấm lòng thủy chung, son sắt, không bao giờ quên.

Hai khổ thơ đầu, tác giả đã đưa người đọc ngược dòng quá khứ trở về với những năm tháng tuổi thơ, những năm tháng đi lính chiến đấu. Đến khổ thơ thứ 3, Nguyễn Duy đưa người đọc về với hiện tại, nói rõ lý do con người lãng quên vầng trăng trong quá khứ:

“Từ hồi về thành phố

Quan ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”

Cuộc sống ở thành phố sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng có nhiều đổi khác. Chốn thị thành đối lập với không gian sống hồi nhỏ và cuộc sống của người lính trên chiến trường. Ánh điện qua gương là hình ảnh mang tính hoán dụ, chỉ cuộc sống tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, tách biệt với thiên nhiên.

Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ sự thay đổi của tình cảm con người: Vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa giờ đây trở thành người dưng. Vầng trăng ấy vẫn hiện hữu, vẫn đi qua ngõ, theo bước chân người nhưng con người thờ ơ, hững hờ, không mảy may nhận ra sự tồn tại của nó. Bằng giọng kể nhỏ nhẹ, tâm tình, ngắn gọn, bài thơ đã làm nổi bật dòng suy tư mang nhiều day dứt của nhà thơ: Thời gian trôi đi sẽ làm lòng người thay đổi.

Hết khổ thơ thứ 3 tưởng chừng ánh trăng sẽ chìm khuất mãi mãi trong quá khứ, người với trăng không còn cơ hội gặp gỡ thì đến khổ thơ thứ tư, sự cố mất điện xảy ra, không gian thành phố hoa lệ không còn, chỉ có ánh trăng hiện hữu. Lúc này, bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu kỷ niệm ùa về trong lòng tác giả:

“Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

Nếu 3 khổ thơ đầu giọng thơ nhẹ nhàng, chậm rãi, miên man với miền ký ức thì đến khổ thơ thứ 4, nhịp thơ trở nên dồn dập bởi sự hiện diện đột ngột của vầng trăng bên ô cửa sổ. Như một thói quen, khi mất điện con người sẽ hướng đến nơi có ánh sáng nên vội bật tung cửa sổ. Lúc đó, chúng ta vô tình bắt gặp vầng trăng tròn tri kỷ năm nào. Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, từ đột ngột được đưa lên đầu câu nhằm thể hiện sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, thậm chí bàng hoàng của con người khi nhìn thấy ánh trăng.

Vầng trăng ấy vẫn tròn vành vạnh, vẫn ân nghĩa, vẫn đồng hành cùng con người, theo dõi từng bước chân, âm thầm, lặng lẽ tỏa sáng, không hề hao khuyết. Ấy vậy mà con người lại lãng quên vầng trăng, lãng quên quá khứ. lúc này, mọi thứ xung quanh như ngừng lại, nhường chỗ cho cuộc hội ngộ nghĩa tình:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng”

Nhà thơ đang lặng lẽ đối mặt với ánh trăng lòng chợt thấy ngậm ngùi, rưng rưng nước mắt. Đó là giọt nước mắt vui mừng, là sự nghẹn ngào khó nói thành lời. Từ “mặt” đặt cuối câu thơ mang nhiều hàm nghĩa khác nhau: Nhà thơ đang đối diện với vầng trăng, người bạn tri kỷ mà mình đã vô tình lãng quên, cũng có thể là đang đối mặt với người khác hoặc đối mặt với quá khứ hoặc đối mặt với sự vô tình của cuộc sống hiện đại.

Nhìn vào vầng trăng, nhà thơ soi thấy cả chính mình, bản thân như được trở về với những năm tháng gắn bó với đồng, với sông, với rừng với bể. Tác giả xúc động khiến nước mắt rưng rưng. Đó còn là giọt nước mắt của sự ân hận, hổ thẹn và ăn năn vì sự vô tình của mình. Điệp ngữ: Như là kết hợp với biện pháp liệt kê làm cho nhịp thơ trở nên trầm lắng như những lớp sóng xa xăm từ quá khứ ùa về xúc động và rất đỗi thiêng liêng.

Mạch cảm xúc của bài thơ rất rõ ràng: Hồi tưởng đến hiện tại, xúc động đến rưng rưng và cuối cùng là những suy ngẫm về lẽ sống ở đời.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình”

Trong bài thơ, vầng trăng được tác giả miêu tả với nhiều định nghĩa, nhiều vai trò khác nhau: Trăng tình nghĩa, trăng tri kỷ, vầng trăng tròn và trăng cứ tròn vành vạnh… Có thể thấy, trăng của thiên nhiên bất biến, không bao giờ thay đổi. Tròn vành vành cho thấy sự thủy chung, trọn vẹn từ quá khứ đến hiện đại cũng như trong tương lai. Dù lòng người có thay đổi, có vô tình thì trăng vẫn trọn vẹn, thủy chung.

Thái độ “im phăng phắc” của trăng gợi lên nhiều suy nghĩ: Đó có thể là sự trách móc, nhắc nhở con người về sự vô tình, bạc bẽo, lãng quên nhưng cũng có thể là sự bao dung, độ lượng của một người bạn thủy chung. Vầng trăng trong thơ Nguyễn Duy là vầng trăng nhân văn, nhân bản và sâu sắc. Qua hình ảnh đó, tác giả mang đến cho bạn đọc một bài học nhân sinh sâu sắc: Sống ân nghĩa, uống nước nhớ nguồn, mỗi người cần tự đối diện với chính mình, với quá khứ để biết mình đã sống như thế nào, sống ra sao?

Ánh trăng là bài thơ hay thể hiện rõ phong cách sáng tác của Nguyễn Duy. Với thể thơ năm chữ ngắn gọn, linh hoạt, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, vần điệu phong phú, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại, nhà thơ như đang tâm sự cùng bạn đọc những suy tư thầm kín nhất trong lòng. Qua hình ảnh ánh trăng, tác giả muốn nói đến triết lý về cuộc sống: Thủy chung, son sắt với bạn bè, đồng chí, nhân dân…  Cảm ơn nhà thơ vì những chia sẻ chân thành, xúc động từ tận đáy lòng.

Lên đầu trang