Cảnh ngày xuân là đoạn trích nổi bật trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Làm sao để phân tích Cảnh ngày xuân ăn điểm cao? Nếu bạn lo lắng nên đọc bài viết sau
1/ Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Nguyễn Du là tên tuổi lớn của nền văn học Việt Nam thời trung đại. Ông sinh năm 1765, mất năm 1829 tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Quê Nguyễn Du tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc, nhiều đời làm quan lớn, có truyền thống hiếu học và truyền thống về văn học. Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm từng đỗ tiến sĩ, giữ chức vụ Tể tướng đầu triều. Nhờ đó, từ nhỏ ông đã được học tập bài bản, được nuôi dưỡng tài năng văn học.
Sinh ra và lớn lên trong thời đại có nhiều biến động nên cuộc đời Nguyễn Du cũng nếm trải nhiều thăng trầm. Thế kỷ XVIII – XIX chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng nghiêm trọng, phong trào đấu tranh của nông dân nổ ra khắp nơi với đỉnh cao là phong trào Tây Sơn của 3 anh em nhà họ Nguyễn. Chính yếu tố thời đại đã tác động lớn đến tâm hồn và ngòi bút của Nguyễn Du
Dù xuất thân từ dòng dõi quý tộc nhưng cuộc đời ông lại gặp nhiều biến cố. Nguyễn Du từng phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc, được đi, được tiếp xúc với nhiều người, nhiều mảnh đời bất hạnh, chứng kiến sự thối nát của xã hội đương thời… Tất cả đã hun đúc lên trong ông tình thương, sự cảm thông sâu sắc với những kiếp người bé nhỏ. Vì thế, các sáng tác của Nguyễn Du luôn thấm đẫm tinh thần nhân đạo.
Trong sự nghiệp sáng tác, ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm chữ hán và chữ nôm có giá trị:
- Sáng tác bằng chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc Hành tạp lục là 3 tập thơ nổi tiếng
- Sáng tác bằng chữ nôm: Văn chiêu hồn và Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều)
Điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Du là đề cao giá trị con người, sự thông cảm sâu sắc với những kiếp người bất hạnh, nhỏ bé. Qua đó, tác giả lên án, tố cáo đanh thép xã hội phong kiến thối nát đương thời đã chà đạp lên quyền sống của con người.
Truyện Kiều là một trong những tác phẩm có sức sống lâu bền nhất của văn học Việt Nam. Truyện gồm 3254 câu thơ lục bát, nội dung chủ yếu xoay quanh cuộc đời của Thúy Kiều, một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời bất hạnh, gặp nhiều biến cố. Tuy mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc nhưng truyện Kiều được xem là bức tranh khái quát trọn vẹn nhất về thời đại mà Nguyễn Du đang sống. Tác phẩm phản ánh rõ hiện thực xã hội loạn lạc, sự tàn bạo của giai cấp thống trị, sức mạnh của đồng tiền, số phận tủi nhục của những người bé nhỏ, bị áp bức, nhất là người phụ nữ.

Cảnh ngày xuân nằm ở phần 1 – Gặp gỡ và đính ước của Truyện Kiều, sau đoạn miêu tả tài sắc của hai chị em Thúy Kiều, trước đoạn Kiều nhìn thấy mộ Đạm Tiên và gặp gỡ Kim Trọng, Đoạn trích được viết theo trình tự thời gian: 4 câu miêu tả khung cảnh ngày xuân, 8 câu tiếp theo là khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh, 6 câu cuối là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
Chỉ bằng những câu thơ ngắn gọn, Nguyễn du đã khắc họa rõ nét bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân náo nhiệt, trong sáng, tươi đẹp. Với bút pháp tả cảnh đặc sắc, ngôn từ giàu chất tạo hình, sự sáng tạo trong cách miêu tả, bút pháp tả cảnh ngụ tình, đoạn trích Cảnh ngày xuân thực sự chạm đến trái tim người đọc.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1 Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Du: Là đại thi hào dân tộc, là tác gia lớn của nền văn học Việt Nam đã để lại cho đời nhiều sáng tác bất hủ
– Truyện Kiều là tác phẩm xuất sắc viết bằng thơ nôm. Đoạn trích Cảnh ngày xuân là đoạn trích thể hiện rõ tài năng miêu tả, tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du.
2.2. Thân bài
a. 4 câu đầu miêu tả khung cảnh ngày xuân
- 2 câu thơ đầu vừa đề cập đến thời gian và không gian: Thời gian là mùa xuân (mùa xuân thấm thoắt trôi mau, thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi), không gian trong trẻo, ánh sáng trong veo cho những con én đưa thoi ⇒ Tác giả vừa tả cảnh vừa ngụ ý thời gian trôi qua rất nhanh
- 2 câu sau miêu tả cảnh mùa xuân tuyệt đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời/Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”: Không gian trong xanh, khoáng đạt, căng tràn sức sống. Mùa xuân tinh khôi, thanh khiết với sắc trắng của những cành hoa lê ⇒ bức tranh mùa xuân sinh động.
b. 8 câu tiếp theo: Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh
- Nô nức, gần xa, ngổn ngang là những tính từ được sử dụng để thể hiện tâm trạng của người đi lễ hội
- Yến anh, tài tử, giai nhân, ngựa xe, áo quần: Là danh từ chỉ sự vật, gợi lên sự tấp nập, đông vui của người đi trẩy hội.
- Thông qua cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du muốn nhắc đến một nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc. Ở đây, phần lễ và phần hội giao thoa hài hòa ⇒ Tác giả trân trọng và muốn gìn giữ nét đẹp văn hóa
- Với từ ngữ giàu tính tạo hình, nghệ thuật chấm phá, tả cảnh ngụ tình, bức tranh mùa xuân đã hiện lên thật sống động.
c. 6 câu cuối: Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về
- Miêu tả bức tranh mùa xuân trong buổi chiều tà rất đẹp và êm đềm: Nắng nhạt, một nhịp cầu, khe nước nhỏ
- Tà tà bóng ngả về tây: Nói đến khoảng thời gian buổi chiều vắng lặng
- Chị em thơ thẩn dắt tay ra về: Ngày hội kết thúc, người đi trẩy hội thơ thẩn quay trở về
- Tác giả sử dụng nhiều từ láy: Nao nao, nho nhỏ, thanh thanh vừa gợi tả cảnh sắc vừa miêu tả tâm trạng con người có một chút buồn, nuối tiếc.
⇒ Bao trùm đoạn trích là bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Đó là cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối và cũng là dụ cảm về một nỗi buồn khó lý giải của người thiếu nữ.
2.3 Kết bài:
– Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
– Nêu cảm nhận của bản thân về ngòi bút tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du
3/ Viết 1 bài văn mẫu

Trên tao đàn văn học Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Du là tên tuổi lớn đã để lại cho đời nhiều sáng tác bất hủ. Trong đó, truyện Kiều là tác phẩm xuất sắc nhất thể hiện rõ tài năng của ông. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” không chỉ phác họa lại bức tranh mùa xuân mà còn thể hiện rõ nghệ thuật tả cảnh, tả tình độc đáo của Nguyễn Du
Cảnh ngày xuân nằm sau đoạn tả tài sắc của chị em Thúy Kiều. Qua đoạn trích, tác giả đã vẽ lên trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên với lễ hội mùa xuân trong trẻo, sống động. Đây cũng là tiền đề cho cuộc gặp gỡ Kim – Kiều trong cuộc du xuân.
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã vẽ lên trước mắt người đọc khung cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh tuyệt đẹp. Nhà thơ chỉ lựa chọn những nét tiêu biểu mang đặc trưng của mùa xuân để miêu tả. Đó là bút pháp miêu tả chấm phá, mang tính ước lệ: Chim én, thiều quang là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân gợi lên trong lòng người sự dịu dàng, ấm áp. Mùa xuân là thời điểm đẹp nhất trong năm, cây cối đâm chồi nảy lộc, căng tràn sức sống và con người cũng thế, tuổi trẻ là độ đẹp nhất.
Câu thơ thứ hai “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” hàm chỉ thời gian trôi qua nhanh như con thoi, tháng giêng, tháng hai đã qua, bây giờ đã là tháng 3, tiết trời trong xanh, không gian thoáng đãng… Tất cả gợi lên cảm giác về nhịp trôi rất nhanh của thời gian, sự sôi động của lòng người trong thời khắc mùa xuân, thêm một chút tiếc nuối
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Bức tranh mùa xuân được tác giả về lên chỉ bằng vài nét chấm phá nhưng đủ đầy và căng tràn, tươi tắn, sinh động làm người ta liên tưởng đến sự sinh sôi, nảy nở. Màu xanh của cỏ non gợi lên sức sống bất diệt, không gian trong veo, mênh mông, khoáng đạt. Trên nền màu xanh ấy là vài bông hoa lê trắng điểm xuyết. “Phương thảo niên bích/Lê chi sổ điểm hoa”. trong thơ Trung Quốc người ta dùng hình ảnh “phương thảo” tức cỏ thơm thiên về mùi vị thì Nguyễn Du lại dùng từ cỏ non thiên về màu sắc. Ở đây, màu xanh nhạt của cỏ non, màu xanh tươi sáng rất phù hợp với màu xanh lam của bầu trời.
Tất cả hợp lại thành gam màu tuyệt đẹp cho bức tranh mùa xuân. Trên nền màu xanh ấy, sắc trắng tinh khôi của hoa lê trở nên nổi bật. Bức tranh vì thế hài hòa, mới lạ, đẹp mắt. Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ: Từ trắng đặt trước từ điểm làm cho cảnh vật trong thơ trở nên có hồn, sinh động chứ không tĩnh mịch. Bằng ngôn từ giàu chất tạo hình, Nguyễn Du không chỉ vẽ lên bức tranh xuân trong trẻo mà ẩn trong đó là tâm hồn vui tươi của con người. Chỉ với 4 câu thơ lục bát, không gian mùa xuân vừa thoáng đãng vừa ấm áp hiện lên làm lòng người cũng trở nên xao động.
Mùa xuân là mùa khởi đầu trong năm, cây cối đâm chồi nảy lộc, tâm hồn con người vì thế cũng phơi phới. Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội. 8 câu tiếp theo của đoạn trích là khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh. 2 câu thơ đầu, Nguyễn Du giới thiệu khái quát những hoạt động chính của lễ là: Tảo mộ và đạp thanh. Lễ và hội này diễn ra trong tiết tháng 3 của mùa xuân:
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”
Tảo mộ vào đầu xuân là nét đẹp văn hóa lâu đời của người Việt, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân tổ tiên. Trong lễ tảo mộ người ta thường sửa sang phần mộ cho người thân đã khuất. Sau lễ tảo mộ là hội đạp thanh. Đây là cơ hội để nam thanh nữ tú gặp gỡ, hẹn hò và giao duyên. Không khí hội đạp thanh diễn ra sôi nổi, tưng từng, nhộn nhịp. Tác giả đã tái hiện lại không khí đó bằng những ngôn từ giàu sức biểu cảm
“Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm”
Gần xa, yến anh, chị em, ngựa xe, áo quần là những từ ghép kết hợp hài hòa với từ láy: Nô nức, sắm sửa, dập dìu… gợi lên một không khí mùa xuân rộn ràng. Ở đây, tác giả sử dụng hình ảnh ẩn dụ “Nô nức yến anh” để chỉ người du xuân nhộn nhịp như chim én, chim oanh náo nức, tình tứ…
Hình ảnh so sánh: Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” cho thấy người tham gia hội đạp thanh đông đúc: từng đoàn, từng đoan chen vai nhau đi trẩy hội. Bằng sự kết hợp đồng thời nhiều biện pháp nghệ thuật: Ẩn dụ, so sánh, ngôn ngữ giàu chất tạo hình, Nguyễn Du đã thành công vẻ lên bức tranh mùa xuân, không khí mùa xuân một cách chân thực và sống động nhất. Trong cái đông vui, tấp nập ấy lại có chút tình tự, duyên dáng của các cặp nam thanh, nữ tú, trai tài, gái sắc.
Bằng 8 câu thơ, tác giả đã đưa người đọc trở về với không khí lễ hội văn hóa dân tộc. Đây cũng là dụng ý sâu sắc của Nguyễn Du: Lấy ngày hội lớn làm tiền đề cho cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng. Sáu câu thơ cuối của đoạn trích, tác giả sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để kết thúc ngày hội mùa xuân.
“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”
Cảnh mùa xuân vẫn dịu dàng, vẫn êm đềm nhưng bóng dương đã ngả về tây. Không khí mùa xuân không còn tưng bừng, nhộn nhịp nên lòng người có chút bâng khuâng, xao xuyến và tiếc nuối. Không gian mùa xuân được tác giả thu gọn lại trong bước chân của người ra về, trong dòng nước tiểu khê và chiếc cầu nhỏ. Nao nao, tà tà, thơ thẩn, thanh thanh không chỉ là từ láy miêu tả trạng thái của cảnh vật mà còn thể hiện tâm trạng của con người.
Đó là chút bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng khác hẳn với không khí lễ hội vào buổi sáng. 6 câu thơ cuối như gieo vào lòng người đọc một chút buồn mang mác, những dự cảm chẳng lành về điều gì đó sắp xảy ra. Quả đúng vậy, Thúy Kiều gặp nấm mồ bất hạnh nằm ven đường, đó là mồ Đạm Tiên – một ca nhi tài sắc nhưng mệnh yểu.
“Ngổn ngang gò đống kéo lên/Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”, đứng trước linh hồn người đã khuất, Kiều thấy ngổn ngang và buồn thương. Nhịp thơ trở nên chậm hơn thể hiện sự sẻ chia, nỗi lòng người nơi trần gian luôn cầu nguyện cho người đã khuất được an yên. Sau đó là sự tình cờ gặp chàng nho sinh tài hoa Kim Trọng, rồi “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Sự gặp gỡ như một định mệnh tiền duyên, cảnh đã nhuốm màu tâm trạng.
Hội tan sao chẳng buồn, sáu câu thơ cuối của đoạn trích miêu tả cảnh chị em Thúy Kiều trên đường trở về. Khung cảnh thiên nhiên yên ả, trầm lặng đối lập với cảnh lễ hội buổi sáng. Cảnh sắc buổi chiều với khe nước nhỏ, nhịp cầu bắc ngang, nắng nhạt, tà tà bóng ngả về tây. Đây không phải là hoàng hôn của cảnh vật mà là nỗi niềm của con người sau buổi hội tan. Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, lễ hội dù đã hết nhưng không khí không ảm đạm, buồn bã mà thanh dịu, lặng lẽ, không gian thu hẹp hơn, thời gian trôi chậm hơn, mọi thứ trở nên lặng lẽ, nhạt dần theo bước chân của của người trẩy hội.
Cảnh vật, thiên nhiên trong thơ chuyển động nhẹ nhàng giống như chuyển biến trong lòng người. Từ láy tà tà, nao nao, thanh thanh vừa gợi hình vừa gợi âm cho thấy tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến trong lòng người. Từ dư âm của ngày xuân, tác giả như ngầm dự báo về những điều sắp xảy ra.
Cảnh ngày xuân quả thực là một đoạn trích thuần tả cảnh. Đọc thơ chúng ta không thấy tên chị em Thúy Kiều xuất hiện nhưng người đọc vẫn mường tượng ra cảnh đi du xuân của ba chị em. Đó cũng là sự kiện mở đầu cho một chương mới trong cuộc đời Thúy Kiều. Nguyễn Du đã khéo léo kết hợp giữa kể và tả, giữa sử dụng ngôn ngữ giàu chất tạo hình với so sánh và ẩn dụ để trong cảnh có tình và trong tình có cảnh.
Truyện Kiều của Nguyễn Du là sáng tác có sức sống bất diệt, trường tồn mãi với thời gian. Cảnh ngày xuân là một trong những đoạn trích tả cảnh thiên nhiên hay nhất, mượt mà nhất trong tác phẩm. Dưới ngòi bút tài tình của Nguyễn Du, cảnh vật hiện lên trong sáng, ẩn chứa nỗi niềm, tâm trạng của con người. Đoạn trích đã góp phần đưa tên tuổi của đại thi hào Nguyễn Du đến gần hơn với bạn đọc trong nhiều thế kỷ.





