Tức cảnh Pác Bó là bài thơ hay được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt. Làm sao để phân tích Tức cảnh Pác Bó sâu sắc, ăn điểm cao? Dưới đây là hướng dẫn.
1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, mất ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, quê tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan. Từ nhỏ, người đã sớm theo cha vào Huế, học ở trường tiểu học Đông Ba, sau đó học ở trường Quốc Học Huế. Năm 1908, Hồ Chí Minh vào Phan Thiết rồi dạy học ở trường Dục Thanh.
Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, lại được chứng kiến sự thất bại trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối đã thôi thúc người ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1911, người rời bến cảng Nhà Rồng, đi qua nhiều nước trên thế giới để tìm hiểu tình hình. Hồ Chí Minh có khoảng thời gian dài hoạt động tài Pháp, Trung Quốc, Thái Lan, Liên Xô.
Năm 1930, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1941 trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạnh. Đến tháng 8 năm 1942, người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9 năm 1943. Sau khi ra tù, Người trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên Ngôn Độc Lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ 1945 đến 1969, người trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta tiến hành kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi. Với những đóng góp to lớn của mình, Hồ Chí Minh được vinh danh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
Nói về quan điểm sáng tác, Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí lợi hại để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Người vừa là một nhà văn vừa là một chiến sĩ cộng sản. Mục đích cầm Bút của Bác là để phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Những sáng tác tiêu biểu của Người có thể kể đến như:
- Văn chính luận: Tập hợp các bài đăng trên báo Nhân đạo, báo Người cùng khổ, Tuyên ngôn độc lập, Bản án chế độ thực dân Pháp, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước.
- Truyện và ký gồm: Vi hành, Những trò lố hay là Va ren và Phan Bội Châu, Nhật kí chìm tàu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc…
- Thơ ca: Nhật kí trong tù, chùm thơ sáng tác ở Việt Bắc, thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp…
Điểm nổi bật trong sáng tác của Hồ Chí Minh là viết đa dạng thể loại bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Văn chính luận của người ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ. Truyện khí thể hiện được tinh thần đấu tranh kiên cường, nghệ thuật trào phúng đặc sắc. Thơ của Bác cũng mang phong cách riêng, tất cả đều gắn bó với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của người.

Tức cảnh Pác Bó được viết năm 1941 sau khi người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Lúc đó, người phải sống và làm việc trong điều kiện hết sức gian khổ nhưng tinh thần vẫn luôn vui vẻ, lạc quan, yêu đời. Bài thơ được viết theo thể Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, thể hiện rõ tinh thần, phong thái ung dung của Bác trong điều kiện cuộc sống gian khổ. Giọng thơ trong sáng, ngôn từ dung dị, đời thường, hình ảnh gần gũi, chân thật, cách ngắt nhịp linh hoạt…
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1 Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm: Tức cảnh Pác Bó là bài thơ nổi tiếng của Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng tại Việt Bắc
- Khái quát nội dung bài thơ: Tái hiện lại cuộc sống, sinh hoạt của Người tại núi rừng Pác Bó với tinh thần lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại chỉ có ở người chiến sĩ cách mạng kiên trung.
2.2 Thân bài
a. Cuộc sống, sinh hoạt, nơi làm việc của Bác ở Pác Bó
- Tác giả sử dụng phép đối: Sáng ra, tối vào để thể hiện sự đều đặn, lặp đi lặp lại, ngày nào cũng như ngày nào
- Thức ăn của Bác rất đơn sơ, giản dị: Cháo ngô, rau măng. Đó là những thứ thức ăn sẵn có trong rừng. “Vẫn sẵn sàng”: Không chỉ thức ăn sẵn sàng mà tâm thế của con người cũng thế, sẵn sàng đối mặt với thử thách của núi rừng và chiến tranh ác liệt.
- Điều kiện làm việc vô cùng khó khăn, thiếu thốn: Bàn làm việc là những tảng đá chông chênh. Trên chiếc bàn đơn sơ ấy người đang luận bàn việc nước.
b. Phong thái ung dung, tự tại, sống hòa nhập của Người
- Cuộc sống ở núi rừng tuy thiếu thốn nhưng người luôn lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại, giọng thơ hóm hỉnh
- Câu thơ cuối của bài thơ: Cuộc đời cách mạng thật là sang: Sang trong thơ Bác không hàm chỉ vật chất là cái sáng khi được sống giữa thiên nhiên, được cống hiến, được hy sinh cho lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc.
c. Nghệ thuật của bài thơ
- Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, ngắn gọn
- Ngôn từ trong thơ chân thật, mộc mạc, giản dị, giọng văn
- Sử dụng phép đối chỉnh mang lại hiệu quả cao
2.3 Kết luận
- Khẳng định lại giá trị của bài thơ: Là một bài thơ hay, ngôn từ giản dị, thể hiện rõ tác phong, phẩm chất cách mạng sáng ngời, lối sống cao đẹp của Hồ Chí Minh
- Liên hệ, đánh giá: Người không chỉ là lãnh tụ kính yêu, cha già của dân tộc mà còn là nghệ sĩ tài năng hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại.
3/ Viết 1 bài văn mẫu

Tức cảnh Pác Bó là bài thơ hay, nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Hồ chí Minh. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, giữa vùng rừng núi Tây Bắc hiểm trở, gian khổ, bài thơ đã toát lên được tinh thần lạc quan, nghị lực phi thường của Bác vì mục tiêu lớn lao phía trước: Giải phóng dân tộc.
“Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”
Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: Tháng 6 năm 1940, khi tình hình chiến sự trên thế giới có nhiều biến động, Pháp đầu hàng Đức. Lúc đó, Bác đang hoạt động bí mật ở Côn Minh, Trung Quốc. Tháng 2 năm 1941, Người về nước chọn Pác Bó làm căn cứ để lãnh đạo phong trào cách mạng. Miền núi phía Bắc vào mùa đông lạnh giá, Bác sức khỏe yếu lại phải sống trong hang tối tăm, ẩm thấp, ăn uống đạm bạc bằng cháo ngô, măng rừng. Gian khổ là thế nhưng Người vẫn lạc quan, yêu đời, dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp cách mạng, tin tưởng vào tương lai đất nước.
3 câu đầu của bài thơ miêu tả một cách đầy đủ cảnh sống và làm việc của Bác. Câu thơ thứ nhất nói về nơi ở, câu thứ thứ hai nói về cái ăn, câu thơ thứ ba nói về phương tiện làm việc, câu thơ thứ 4 là sự liên tưởng đầy thú vị của người về cuộc sống của mình. Dù trong gian khổ tâm hồn Bác vẫn ngời lên tinh thần cách mạng, lạc quan, yêu đời.
“Sáng ra bờ suối tối vào hang”, Cái hang Bác sống và làm việc có tên là Pác Bó, rộng chỉ khoảng 1m2, đáy hang tương đối bằng, đủ để kê một tấm ván thay cho chiếc giường. Vách hang lồi lõm, rất sâu nên ẩm thấp và lạnh lẽo. Phía trước cửa hang là một dòng suối nhỏ, bác đặt tên nó là suối Lê Nin, còn chân núi chạy sát hang là núi Mác. Bàn làm việc của Bác chỉ là phiến đá đơn sơ kê trên hai hòn đá. Vì địa hình không bằng phẳng nên bàn đá cứ chông chênh.
Không gian sống và làm việc của Bác chia làm hai phần rõ ràng: Một là hang, hai là suối. Công việc của Bác cũng chia thành hai: Sáng ra suối, tối vào hang. Thời gian cứ lặp lại đều đặn như thế. Tại sao sáng lại ra bờ suối? Ra suối để có đủ ánh sáng làm việc, tối vào hang là để nghỉ ngơi. Nội dung bài thơ phản ánh chỉ có thế nhưng ẩn giấu sau ngôn từ và nhịp thơ đường luật bảy chữ là phong thái cách mạng ung dung, tự tại, sự lạc quan yêu đời và niềm tin vào tương lai đất nước. Đọc câu thơ chúng ta có cảm giác: Gian khổ, hiểm nguy đối với Bác không là gì cả, tất cả đều bị nhấn chìm, tan biến trước phong thái an nhiên của người.
“Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”, bữa cơm hàng ngày của Bác rất đạm bạc, đơn sơ chỉ có cháo bột ngô và măng đắng hoặc rau rừng hoặc măng nứa. Ngày này qua ngày khác món ăn vẫn chỉ có thế nhưng không làm nhụt chí người chiến sĩ cộng sản. Câu thơ làm chúng ta liên tưởng tới cảnh sống thanh bần của người xưa “Trúc biếc, nước trong ta sẵn có” (Nguyễn Trãi) hay “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Đọc thơ Bác ta thấy rõ: Gian khổ và sự thiếu thốn đã được thi vị hóa thành sự phong lưu, giàu có. Hay nhất trong bài thơ vẫn là giọng điệu an nhiên, lạc quan, khoan thai. Ba chữ “Vẫn sẵn sàng” đưa câu thơ lên một tầm mới. Có thể thấy, hai câu thơ đầu của bài là tả thực, câu thứ ba vừa tả thực lại vừa tả tình. Hai câu đầu chưa có bóng dáng con người thì đến câu ba, con người hiện diện sống động, hành động rõ ràng “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”.
Từ “vẫn sẵn sàng” trong câu thơ thấp thoáng một chút vui thì sau từ “chông chênh” ẩn một nụ cười thâm thúy, hóm hỉnh. Chông chênh là một tính từ giàu khả năng tạo hình: Chông chênh là không vững, không có chỗ dựa vững chắc. Chiếc bàn đá của Bác chông chênh vì nó thiếu một phiến đá, đó là một thứ bàn làm việc bất đắc dĩ.
Hàm ý của câu thơ không dừng lại việc miêu tả đặc điểm của chiếc bàn đá mà ẩn sau đó là tình thế cách mạng muôn vàn khó khăn. Lúc này, quân phát xít hùng mạnh đang thắc thế trên nhiều mặt trận, quân Nhật cũng đã vào Đông Dương ra sức đàn áp cách mạng, bóc lột nhân dân ta. Dân ta một cổ hai tròng, mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Trong cái thế khó khăn, chông chênh ấy Người vẫn không hề nao núng, vẫn bình tĩnh làm việc, dịch sử Đảng cho cán bộ học tập và nghiên cứu nhằm áp dụng vào thực tiễn cách mạng nước nhà. Ở đây có một sự đối lập rõ ràng: Bác đang làm một công việc hết sức quan trọng và nghiêm túc: Dịch sử Đảng trong một hoàn cảnh rất khó khăn, khung cảnh đơn sơ, bàn đá chông chênh, nghe qua có một chút hài hước, đùa vui nhưng mang ý nghĩa cách mạng lớn lao.
Với nhịp bốn, ba thanh bằng, một thanh trắc: Bàn đá chông chênh gợi lên sự nguy hiểm thì vế tiếp theo là nhịp ba, hoàn toàn bằng thanh trắc: Dịch sử Đảng cho thấy rõ ý chí, quyết tâm chiến đấu, niềm tin tuyệt đối vào tương lai đất nước của Bác. Đó là tư thế vững vàng, chủ động của người chiến sĩ cộng sản kiên trung.
Đọc những câu thơ này của Bác làm người đọc liên tưởng đến cảnh ở ẩn tại Côn Sơn của Nguyễn Trãi: “Côn Sơn có suối nước trong/Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm/Côn Sơn có đá tần vần/Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi”. Nguyễn Trãi đã thi vị hóa cuộc sống đạm bạc, thanh tao của mình ở chốn núi rừng, nay chúng ta bắt gặp lại điều đó trong thơ Bác.
“Cuộc đời cách mạng thật là sang”, nếu ba câu thơ đầu là cuộc sống khó khăn, gian khổ nơi núi rừng Việt Bắc thì đến câu thứ 4, tất cả mọi khó khăn, thiếu thốn về vật chất được thi vị hóa, được chuyển hóa thành cái giàu sang về tinh thần. Bác đã chuyển hóa toàn bộ khó khăn đó thành cái giàu về tinh thần với nụ cười hóm hỉnh
Có thể thấy, suối không chỉ là nơi làm việc, hang không chỉ là nơi nghỉ ngơi mà còn là không gian thoáng đãng, nơi con người có thể sống hòa mình với trời đất. Đọc thơ sẽ thấy mọi gian lao, vất vả như tan biến vào nhịp thơ thư thái, tuần hoàn. Cháo bẹ, rau măng tượng trưng cho sự gian khổ vốn không ai muốn nhưng nó được nâng lên thành “vẫn sẵn sàng”, thể hiện một tư thế chủ động, sẵn sàng đón nhận một cách vui vẻ.
Tất cả tinh thần, niềm vui, sự lạc quan của cả bài thơ tụ lại ở câu thơ này. Niềm tin bất diệt, niềm tự hào về lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc trở thành âm hưởng chủ đạo tỏa sáng cả không gian bài thơ. Tâm thế ung dung, tinh thần sẵn sàng, cốt cách và khí tiết vững vàng đặt trong cái thế: Chông chênh đã làm nên cái sang, cái quý của người chiến sĩ cộng sản. Dù trong gian khó họ vẫn một lòng theo Đảng, không ngại hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tức cảnh Pác Bó là bài thơ tứ tuyệt ngắn gọn, súc tích. Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn đã giúp người đọc hiểu rõ về những năm tháng trường kỳ kháng chiến của dân tộc, hiểu hơn về Bác – người anh hùng giải phóng dân tộc, vị cha già đáng kính của con dân đất Việt. Hơn hết, với tinh thần lạc quan cách mạng, bài thơ làm người đọc thấm thía về thái độ sống, quan điểm sống tích cực, vững vàng, kiên định của một người cộng sản chân chính mang tên Hồ Chí Minh.





