Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chọn lọc, hay nhất

Văn tế nghĩa Nghĩa sĩ Cần Giuộc là sáng tác nổi bật của Nguyễn Đình Chiểu. Làm sao để phân tích bài Văn tế ăn điểm cao? Dưới đây là gợi ý cho các sĩ tử.

Đôi nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Đôi nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm      

Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 mất năm 1888, tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, Hối Trai. Ông sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (cũ). Vốn xuất thân trong một gia đình nhà nho hiếu học, năm 1843, ông thi đỗ tú tài trong kỳ thi Giang Định. Sau đó, ông ra Huế học tập để tiếp tục nghiệp đèn sách thì nhận được tin mẹ qua đời. Ông đã bỏ thi để về quê chịu tang. Không may trên đường trở về ông bị đau mắt nặng rồi mù hẳn.

Dù số phận không may nhưng Nguyễn Đình Chiểu không hề nản chí. Ông về quê mở lớp dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho bà con. Từ đó, tiếng thơm về ông đồ Chiểu vang danh khắp lục tỉnh nam kỳ. Sau khi Pháp nổ súng xâm lược, ông đã cùng nghĩa quân Cần Giuộc chống giặc. Bị giặc bắt, chúng sử dụng mọi thủ đoạn để mua chuộc ông nhưng ông đều thẳng thắn khước từ. Có thể nói, cuộc đời ông là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách, lối sống và nghị lực. Đặc biệt, Nguyễn Đình Chiểu một đời gắn bó và chiến đấu không mệt mỏi vì độc lập của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân. Trong cuộc đời sáng tác. Nguyễn Đình Chiếu chủ yếu viết bằng chữ Nôm. Tiêu biểu  như:

  • Truyện thơ dài: Lục Vân Tiên, Dương Tử – Hà Mậu, tác giả sáng tác trước khi Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ
  • Một số tác phẩm khác: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau khi pháp xâm lược.

Điểm nổi bật trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là mang nặng lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa. Đó là đạo lý làm người với tinh thần nhân nghĩa. Mẫu người lý tưởng trong sáng tác thơ văn của ông là những con người nhân hậu, thủy chung, ngay thẳng, dám đứng lên đấu tranh chống các thế lực tàn bạo, cứu nhân độ thế.

Mặt khác, thơ Nguyễn Đình Chiểu còn mang nặng lòng yêu nước thương dân. Vì thế, ngòi bút của ông ghi lại một cách chân thực nhất thời đại đau thương của dân tộc, tố cáo đanh thép tội ác của kẻ thù, khích lệ lòng yêu nước, căm thù giặc của nhân dân.

Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang để tế những nghĩa sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận tập kích vào đồn của Pháp ở Cần Giuộc ngày 16 tháng 12 năm 1861. Sau khi ra đời, bài tế đã được mọi người truyền tụng khắp nơi.

Bố cục bài tế gồm 4 phần: Lung khởi từ đầu đến tiếng vang như mõ: Nêu khái quát về cuộc đời của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Phần thích thực từ nhớ linh xưa đến tàu đồng súng nổ: Tác giả đưa người đọc hồi tưởng lại cuộc đời, đóng góp của những người nghĩa sĩ. Phần Ai vãn từ Ôi đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ: Thể hiện sự thương tiếc của tác giả, của người thân đối với sự ra đi của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Phần kết là phần còn lại: Khẳng định tình cảm xót thương của người đứng tế với các linh hồn đã khuất.

Xét về giá trị nội dung, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng về một thời kỳ lịch sử đau thương của dân tộc. Đó còn là tiếng khóc cho những người dân bất tử. Họ – Người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc trở thành tượng đài bất tử trong cuộc chiến chống giặc bảo vệ tổ quốc. Tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất hiện thực, chất trữ tình. Ngôn ngữ bài tế bình dị, gần gũi, trong sáng, sinh động góp phần làm nên thành công của tác phẩm.

2/Lập dàn ý cho bài phân tích  

Lập dàn ý bài văn phân tích: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Lập dàn ý bài văn phân tích: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

a. Mở bài:

  • Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu: Là một nhà văn mù nhưng nhân cách cao đẹp. Ông được ví là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam – càng nhìn càng sáng.
  • Đôi nét về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Đó là tiếng khóc bi tráng về một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vô cùng vĩ đại của dân tộc.

b. Thân bài

Bài văn tế được viết theo kết cấu 4 phần: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn và phần kết. Mỗi phần là một mạch cảm xúc riêng:

* Phần lung khởi: Khái quát bối cảnh lịch sử dân tộc và khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc:

  • Hỡi ôi: Đó là từ cảm thán thể hiện sự tiếc thương vô hạn, chân thành, tha thiết của tác giả đối với sự ra đi của những người chiến sĩ Cần Giuộc.
  • Súng giặc đất rền: Cho thấy tội ác của thực dân Pháp, súng đạn của chúng đã tàn phá nặng nề làng xóm, gây ra biết bao cảnh tượng đau thương
  • Lòng dân trời tỏ: Khẳng định tấm lòng của người dân, họ đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước có trời đất chứng giám.

⇒ Tác giả khẳng định, tuy cuộc chiến đấu của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc thất bại nhưng họ là người đáng trân trọng, sự hy sinh ấy để lại tiếng thơm muôn đời, được lưu truyền mãi mãi.

* Phần thích thực: Tái hiện lại hình ảnh người nghĩa sĩ Cần Giuộc

Hình ảnh can trường của người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Hình ảnh can trường của người nghĩa sĩ Cần Giuộc

– Nguồn gốc

  • Là những người nông dân nghèo khổ – vốn là dân ấp, dân lân (Những người rời bỏ quê đến vùng đất mới khai khẩn đất để sinh sống).
  • Hoàn cảnh của họ: Côi cút làm ăn, không có nơi nương tựa.
  • Ở đây, tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản: Cái quen và cái chưa quen. Họ quen với cảnh làm lụng vất vả nhưng chưa quen với việc cầm gương cầm súng nhưng vẫn một lòng đứng lên chống giặc.
  • Mục đích của nghệ thuật tương phản là để làm nổi bật tầm vóc của người anh hùng chân đất.

– Lòng yêu nước của người nghĩa sĩ

  • Khi đất nước bị kẻ thù xâm lược, ban đầu những người nông dân cảm thấy lo sợ, chỉ trông chờ vào tin quan, sau đó họ căm ghét, căm thù mà tự động đứng lên chống lại.
  • Ở đây, có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng của người nông dân” Từ sự lo sợ họ thể hiện thái độ căm thù tột độ để sau đó đứng lên chiến đấu một cách tự nguyện: Nào đợi ai đòi ai bắt.

– Tinh thần chiến đấu quả cảm của người nông dân

  • Họ vốn không phải là lính, chỉ là dân ấp dân lân nhưng vì mến nghĩa làm dân chiêu mộ
  • Lập được nhiều chiến công lẫy lừng: Đốt xong nhà dạy đạo, ném rơi đầu quan hai nọ
  • Họ không ngại đạp rào, xô cửa, liều mình, chém ngược, đâm ngang: Đây là những động từ mạnh thể hiện sự mạnh mẽ, hành động quả quyết với nhịp độ nhanh và khẩn trương.

⇒ Tác giả đã tài tình xây dựng nên một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân chân lấm tay bùn đứng lên đánh giặc cứu nước.

* Phần ai vãn: Thể hiện sự thương xót, cảm phục trước sự hi sinh của người nghệ sĩ Cần Giuộc

  • Hình ảnh gia đình của những người nghĩa sĩ: Cô đơn, tang tóc, chia lìa, không khí đau thương, buồn bã
  • Sự hy sinh của những người nghĩa sĩ để lại sự xót thương vô hạn đối với tác giả, gia đình, nhân dân nam bộ và nhân dân cả nước. Đó là tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lớn.

* Phần kết: Cơ ngợi linh hồn bất tử của những người nghĩa sĩ

  • Tác giả khẳng định: Một trận khói tan nghìn năm tiết rỡ: Có nghĩa là tiếng thơm còn lưu lại muôn đời
  • Bài văn tế cho thấy: Đây là cái tang chung của mọi người, mọi nhà, của cả một thời đại. Đó cũng chính là khúc ca bi tráng về những người anh hùng thất thế.

c. Kết luận

  • Khái quát lại nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài văn tế
  • Nêu suy ngẫm của bản thân, trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước

3/Viết 1 bài văn mẫu  

Văn mẫu phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Văn mẫu phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên tao đàn văn học Việt Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng ở Nam Bộ thời kỳ văn học trung đại. Sự nghiệp sáng tác của ông luôn thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa, tinh thần yêu nước sâu sắc. Ông để lại cho đời nhiều sáng tác thơ văn bất hủ, trong đó không thể không kể đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài tế được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt: Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở Nam Bộ nên những người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã phải đứng lên khởi nghĩa và giành được thắng lợi bước đầu. Tuy nhiên, vì tương quan lực lượng chênh lệch, sau một đợt bị giặc phản công dữ dội, những người nghĩa sĩ anh dũng đã mãi mãi nằm xuống. Nguyễn Đình Chiểu lúc ấy đã nhận lời của tuần phủ Gia Định viết bài văn tế đọc trong lễ truy điệu những người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Mở đầu bài tế, rất tự nhiên, tác giả luận bàn về lẽ sống chết ở đời: “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ/Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao/Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ”. Ở đây, tác giả đã khéo lẽo vẽ lên bức tranh của thời đại với nhiều biến cố: Giặc Pháp xâm lược nước ta với vũ khí tối tân hiện đại: Tàu chiến, tàu đồng súng nổ. Chúng đã đốt cháy xóm làng, tàn sát biết bao người dân vô tội.

Trước cảnh đau thương, tang tóc đó, nhân dân Nam Bộ đã không ngần ngại đứng lên chiến đấu chống lại kẻ thù giày xéo quê hương. Họ sẵn sàng hy sinh những thứ quý giá như: Tài sản, tính mạng để bảo vệ cuộc sống yên bình cho người thân, cho bà con. Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lý sống của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục.

Phần thích thực của bài tế, tác giả tái hiện lại chân dung người lính Cần Giuộc. Họ vốn là những người nông dân hiền lành, chất phác, dân ấp, dân lân chỉ quen với việc làm ruộng. Tuy nhiên, khi đất nước có giặc ngoại xâm, họ sẵn sàng đứng lên chống giặc. Họ vốn sống cuộc sống bình dị: Côi cút làm ăn, gắn bó với miền quê nghèo, chưa từng biết đến thế giới rộng lớn ngoài kia. Quanh năm, họ chỉ quen với công việc của nhà nông: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm còn việc “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.

Tuy thế, khi giặc Pháp xâm lược, giày xéo lên mảnh đất quê hương, phá vỡ sự bình yên của những làng quê nghèo yên ả, họ lại sẵn sàng đứng lên đánh giặc. Tác giả rất khéo léo trong việc thể hiện sự chuyển biến về nhận thức và tình cảm của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Họ đã nghe ngóng về tình hình quân giặc: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng…”, tức người nghĩa sĩ đã nghe tin giặc nổ súng xâm lược, rồi ngửi thấy mùi của những cuộc đấu tranh “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm”. Cuối cùng, họ được trực tiếp chứng kiến sự tàn bạo của kẻ thủ “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp/Muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

Rõ ràng, lúc này, người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã có sự chuyển biến thực sự về nhận thức: Ban đầu họ còn tin vào triều đình, chờ đợi vào quân đội triều đình có thể bảo vệ làng xóm thì đến đây họ ý thức rõ nền độc lập, danh dự của tổ quốc không thể trông chờ vào quan quân. Họ tự nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, Phen nay dốc ra tay bộ hổ”. Sự chủ động xông trận của họ thật đáng coi trọng, oai phong, lẫm liệt và đầy dũng khí.

Nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn là dân ấp, dân lân, họ quen với ruộng đồng, không được trang bị binh pháp, chưa được tập trận, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ. Trang bị vũ khí của họ rất thô sơ: Ngoài cật có một manh áo vải/Trong tay cầm một ngọn tầm vông/Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi…”.

Ngược lại, kẻ thù của chúng ta: Đạn nhỏ đạn to, tàu chiến tàu đồng súng nổ. Trong cuộc chiến không cân sức này, người nghĩa sĩ vẫn không hề chùn bước, họ xung trận với một khí thế sục sôi: Đạp rào lướt tới, coi giặc như không, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có hay “Đậm ngang chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh”

Vũ khí của quân giặc tuy hiện đại nhưng không thể làm cho những người nghĩa sĩ lo sợ. Họ không sợ uy lực của kẻ thù, xông trận với tất cả sức mạnh của lòng căm thù. Động từ mạnh liên tiếp được tác giả sử dụng với nhịp điệu gấp gáp đã tái hiện thành công cảnh chiến đấu ác liệt của những người nghĩa sĩ, qua đó làm bật nổi vẻ đẹp hiên ngang, bất khuất, kiên cường của những người nông dân nghĩa sĩ.

Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận: Vũ khí hiện đại của kẻ thù đã khiến bao nghĩa sĩ phải ngã xuống. Đến đây, giọng thơ chùng xuống, đau đớn, tiếc thương. Tiếng khóc của người thân, của tác giả cũng chính là tiếng lòng của cả dân tộc. Đó còn là sự thương cảm đối với người thân của những người nghĩa sĩ. Từ đây, họ sẽ rơi vào vòng bủa vây của kẻ thù.

“Thà thác mà đặng câu địch khái/Về theo tổ phụ cũng vinh/Hơn còn mà chịu chữ đầu tây, ở với man di rất khổ”. Tác giả cảm phục tinh thần của những người nghĩa sĩ, họ sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tổ quốc chứ không thể chịu cảnh sống chung với những kẻ man di. Câu thơ bi thương, xót xa nhưng không hề yếu đuối, bi lụy.

Niềm thương tiếc của nhà thơ dành cho người nông dân nghĩa đã khuất thể hiện rõ trong cụm từ “khá thương thay”. Sang đoạn kết của bài thơ, từ “ôi” vừa thể hiện sự xót thương vừa là lời cầu nguyện của người đứng tế. Giọng điệu trở nên bi ai, thống thiết. Nguyễn Đình Chiểu thương xót những người nông dân hiền lành, chân chất, chịu khổ “ăn tuyết nằm sương, xiêu mưa ngã gió” nhưng không chịu nhục mất nước. Đó là lý do họ đứng lên chống giặc, không khom lưng, uốn gối làm nô lệ.

Những câu cuối của bài tế “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân/Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ” tác giả thể hiện niềm xót thương, sự tưởng nhớ tới những người đã khuất. Ẩn sâu trong bài tế là tiếng khóc lớn, khóc ròng cho một thời kỳ lịch sử bi ai. Qua đó, tác giả thể hiện ước nguyện: Đất nước thái bình, nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than cơ cực.

Nguyễn Đình Chiểu mong đất nước sẽ sạch bóng quân thù để những người nghĩa sĩ lại được trở về với gia đình, ruộng vườn. Bản thân bị mù hai mắt không thể ra trận chiến đấu nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng ngòi bút làm vũ khí “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Ông vẫn cùng các lãnh tụ của nghĩa quân họp bàn mưu kế đánh giặc. Dù kẻ thù ra sức mua chuộc, dụ dỗ nhưng ông luôn giữ trọn tấm lòng son với non sông đất nước.

Có thể nói: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một bài văn tế thành công nhất của Nguyễn Đình Chiểu. Lần đầu tiên, hình tượng người nông dân chất phác đi vào trong văn học với dáng dấp, tính cách, cảm xúc rõ ràng. Đề tài bài tế mang tính thời sự cao, sử dụng thủ pháp nghệ thuật đắt giá. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú Đường luật có vần, có độc vận, ngôn ngữ biểu cảm, bình dị… Bài tế đã góp phần giúp Nguyễn Đình Chiểu tỏa sáng trên tao đàn văn học dân tộc theo cách riêng của mình.

Lên đầu trang