Ngang như cua

Cách nói đậm chất dân gian “Ngang như cua” xuất hiện phổ biến trong lời ăn tiếng nói nhân dân Việt Nam. Nó được dùng để chỉ những kẻ có tính tình bảo thủ và ngang bước, không chịu tiếp thu ý kiến của người khác.

Ý nghĩa của thành ngữ Ngang như cua

Thành ngữ “Ngang như cua” bắt nguồn từ một đặc tính di chuyển có thật của loài cua. Do cấu trúc cơ thể, nó bò ngang chứ không thể tiến thẳng như các động vật khác.

Trong cách nói này, “ngang” không chỉ được lý giải như dáng đi đặc biệt của loài cua mà còn là sự ngương ngạnh, ngang bướng. Tác giả dân gian đã kết hợp tài tình biện pháp nghệ thuật so sánh và chơi chữ, tạo nên một thành ngữ giàu giá trị.

Như vậy, câu “Ngang như cua” được dùng để chỉ những cá nhân bướng bỉnh và bảo thủ, một mực làm theo ý mình mà bỏ ngoài tai lời nói của người khác. Ngoài ra, kho tàng văn học dân gian Việt Nam còn có thành ngữ “Ngang như cành bứa” cũng mang ý nghĩa tương tự.

Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, “Ngang như cua” còn được sử dụng nhằm khuyên nhủ mỗi cá nhân cần biết sống chan hòa, tiếp thu ý kiến từ mọi người xung quanh để thay đổi và trở nên tốt hơn.

Ngang như cua và sự tích ra đời của loài cua

Câu thành ngữ quen thuộc này còn gắn liền với sự tích về loài cua. Chuyện kể rằng ngày xưa, có một cô gái không những xinh đẹp mà còn nết na nhưng lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải sống cùng dì ghẻ.

Mụ dì ghẻ này còn có một đứa con gái, suốt ngày lười biếng chẳng làm gì, tính tình ngang bướng không nghe lời ai. Hai người thường xuyên bắt nàng, giao đủ mọi việc lớn nhỏ trong nhà cho cô nàng tội nghiệp kia.

Thế rồi hai người con gái ấy cũng đến tuổi gả chồng và yên bề gia thất. Bao nhiêu chàng trai đến đều muốn hỏi cưới cô nàng mồ côi, không mảy may đếm xỉa đến đứa con ngang ngược, kiêu ngạo của dì ghẻ.

Điều này khiến mụ rất tức giận, tìm mọi cách để chèn ép con gái chồng. Một hôm, bà ta thấy cô gái mặc chiếc váy hoa rực rỡ nên đã ra sức mắng nhiếc, đánh đập nàng truy hỏi về nguồn gốc của nó.

Cô gái bị đành kể về nguồn gốc của chiếc váy hoa, chính bà cụ rách rưới được nàng giúp đỡ ở bờ sông đã tặng cho. Mụ dì ghẻ nghe xong nghĩ ngay đến bà tiên, bèn mách con mình thay chị giặt đồ để xin phép màu trở nên xinh đẹp.

Thế là từ đó, con riêng của mụ dì ghẻ đành đảm nhiệm công việc giặt đồ ở sông. Một ngày nọ, bà lão nghèo khổ kia lại xuất hiện, thế nhưng trái ngược với chị gái, cô ta không chỉ từ chối giúp đỡ mà còn ra sức chê bai.

Khi nhận ra đó là bà tiên, đứa con gái đỏng đảnh mới bàng hoàng định mở miệng xin lỗi. Thế nhưng đã quá muộn, cụ già hóa phép khiến cô trở thành một loài vật kỳ lạ.

“Một con người độc ác mà lại ngang ngạnh thì không trở thành cô gái xinh đẹp được. Bà cụ nói xong biến mất. Liền sau đó, cô gái đỏng đảnh cũng biến mất.” – Bà lão hóa phép khiến cô gái hóa thành một con cua

Nó ấy có màu sắc xám xịt cùng chân cẳng tua tủa, về sau được người đời gọi là cua. Bởi tính cách ngang ngược và ngạo mạn, cô gái đã bị trừng phạt hóa thành loài vật suốt đời phải bò ngang.

“Từ chuyện con cua có cấu trúc như vậy nên chỉ bò ngang, khác với giống vật khác, nên dân gian khéo vận vào cuộc sống để chỉ những người ngang ngạnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đó cũng là một tính xấu của con người không biết nghe lời hay, lẽ phải cứ làm theo ý mình.” – Tác giả Tiêu Hà Minh nói về thành ngữ Ngang như cua trong Đi tìm điển tích thành ngữ

Thành ngữ “Ngang như cua” ra đời từ đây, ngụ ý chê bai những kẻ ngang bướng chỉ thích làm theo ý mình. Đây cũng là lời khuyên răn con cháu đời sau phải biết lắng nghe ý kiến mọi người xung quanh để sửa đổi tính nết.

Tính cách ngang như cua của bé Thu trong Chiếc lược ngà

Nguyễn Quang Sáng là một trong số cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam thời chiến. Với quãng thời gian dài ở chiến trường, chứng kiến nhiều cảnh ngộ cảm động về tình người, ông đã để lại cho đời nhiều áng văn như Đất lửa, Mùa gió chướng hay Chiếc lược ngà.

Nằm trong số đó, Chiếc lược ngà được sáng tác vào năm 1966 lúc Nguyễn Quang Sáng đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Áng văn đã tái hiện tình phụ tử đầy cảm động giữa ông Sáu, người lính hiếm khi có dịp về thăm quê và đứa con gái nhỏ tên Thu.

Bằng tài năng văn học cùng sự am hiểu trẻ em, tác giả đã khắc họa bức chân dung nhân vật bé Thu một cách tài tình. Khi mới gặp ông Sáu lần đầu, em không chạy đến ôm chầm ngay mà tỏ ra ngờ vực, ngơ ngác.

Cách phản ứng đó của bé Thu là hoàn toàn dễ hiểu bởi trước đây em chưa từng nhìn thấy người bố bộ đội ấy. Mặc cho mẹ ra sức khuyên nhủ và giảng giải, nhân vật trẻ con này vẫn nhất quyết không chịu gọi ông Sáu một tiếng “ba”

“Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng ba của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi.” – Bé Thu một mực không gọi ông Sáu là ba trong truyện ngắn Chiếc lược ngà

Sở dĩ bé Thu không chịu gọi “ba” là bởi trông thấy ông Sáu có cái thẹo lớn trên mặt, không giống với người ảnh chụp cùng mẹ. Sau khi nghe ngoại kể, em mới vỡ lẽ, thỉnh thoảng lại thở dài trước những hành động trước kia của mình.

Nét tính cách ương ngạnh, có phần “ngang như cua” ấy thực chất cũng thuộc một biểu hiện của tình yêu thương gia đình vô bờ bến. Đối với bé Thu, tiếng “ba” vô cùng thiêng liêng, vì vậy em chỉ gọi khi biết chắc người đó là cha mình.

Thông qua truyện ngắn Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng đã ngợi ca vẻ đẹp của tình cha con. Ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là chiến tranh khắc nghiệt, nó vẫn ngời sáng đẹp đẽ và trở thành ngọn đuốc tiếp thêm sức mạnh cho người lính nơi sa trường.

Lên đầu trang