Lá mặt lá trái

Từ xa xưa, ông bà ta đã gửi gắm muôn vàn bài học giàu tính nhân văn thông qua các câu ca dao và thành ngữ, tục ngữ. “Lá mặt lá trái” là một trong số đó, ngụ ý phê phán những người hay tráo trở, lật lọng.

Ý nghĩa của thành ngữ Lá mặt lá trái

Trong tiếng địa phương miền nam, “mặt” đồng nghĩa với bên phải. Vì vậy, “Lá mặt lá trái” tức là đang nhắc đến hai phía khác nhau của chiếc lá.

Câu nói đậm chất dân gian này bắt nguồn từ cách làm bánh lá. Đối với các loại có nhân bên trong khác nhau, người ta thường phân biệt bằng lớp ngoài cùng.

Chẳng hạn với bánh nếp, lớp lá ngoài cùng là mặt phải cũng đồng nghĩa với việc nhân bên trong mặn (đỗ xanh, thịt lợn) và ngược lại. Tuy nhiên, cách đánh dấu như vậy chỉ mang tính chất quy ước, có giá trị trong phạm vi hẹp.

Vì vậy, sẽ có những người cố tình vi phạm quy ước, đánh tráo loại bánh “lá mặt” với “lá trái” hòng vụ lợi cá nhân. Thành ngữ “Lá mặt lá trái” cũng ra đời từ đây, được dùng để thể hiện sự tráo trở, lật lọng.

Bản tính tráo trở của Mã Giám Sinh trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều

Truyện Kiều là áng thi ca thấm đẫm tinh thần nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. Thế giới nhân vật trong tác phẩm được ví như một xã hội thu nhỏ với mọi tầng lớp, hạng người.

Chỉ bằng một vài từ ngữ, Nguyễn Du đã khắc họa nên bức chân dung về diện mạo lẫn tâm hồn. Đặc biệt, đối với lớp nhân vật phản diện, ngòi bút cùng giọng điệu nhà thơ trở nên lạnh lùng, châm biếm khi lột tả bản tính xấu xa.

Ở đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, thi sĩ đã miêu tả trần trụi sự bỉ ổi, tráo trơ đậm nét “lá mặt lá trái” của Mã Giám Sinh. Hắn không chỉ là một kẻ có lai lịch bất minh mà còn cư xử xấc xược, vô văn hóa.

“Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần.” – Mã Giám Sinh mua Kiều

Bên cạnh đó, Mã Giám Sinh còn là một tay buôn người, không ngừng dùng lời lẽ cay đắng dồn ép Thúy Kiều vào bước đường cùng. Hắn đại diện cho những kẻ bất lương và tàn ác, chỉ biết kiếm lợi trên xác phụ nữ trong xã hội mà đồng tiền có sức mạnh tối thượng.

Thông qua nhân vật này, Nguyễn Du đã lên án tố cáo những thế lực xấu xa chà đạp tài sắc và nhân phẩm người phụ nữ. Bên cạnh đó, thi nhân cũng bày tỏ nỗi niềm xót thương, cảm thông cho các mảnh đời bất hạnh trong thời đại đương thời.

Cách cư xử lá mặt lá trái của Dế Mèn trong Bài học đường đời đầu tiên

Dế Mèn phiêu lưu ký là tập truyện gắn liền với bao thế hệ tuổi thơ Việt Nam. Tác phẩm đã ghi lại hành trình trưởng thành của nhân vật Dế Mèn thông qua từng mảnh đất và con người mà cậu tiếp xúc.

Trong đó, văn bản Bài học đường đời đầu tiên nằm ở chương Một của bộ truyện, kể về bài học đau đớn đầu đời mà Dế Mèn nhận được. Tô Hoài đã dựng nên bức chân dung chàng dế cường tráng, trẻ trung nhưng lại vô cùng kiêu căng, ngạo mạn.

Thế nhưng khi chứng kiến chị Cốc hung hăng giáng từng đòn vào Dế Choắt vì trò đùa do bản thân gây ra, Dế Mèn chỉ biết im lặng núp dưới hang không dám nhận lỗi. Cách cư xử “lá mặt lá trái” ấy của cậu ta đã gián tiếp khiến bạn mình ra đi trong sự đau đớn tột cùng.

Sự bốc đồng ở tuổi mới lớn ấy đã dạy cho Dế Mèn một bài học quý giá, giúp cậu sớm tỉnh ngộ rồi thay đổi tâm tính. Đây cũng chính là bức thông điệp Tô Hoài muốn nhắn nhủ đến độc giả trẻ tuổi, họ cần cư xử thành thật với mọi người xung quanh.

Bản chất xấu xa và lật lọng của thực dân Pháp trong Thuế máu

Thuế máu là tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút sắc sảo, giàu chất chính luận của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh. Nó được ví như bản cáo trạng đanh thép bóc trần bộ mặt xấu xa cùng những tội ác mà thực dân Pháp gieo rắc khắp Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung.

Ở Thuế máu, tác giả đã lật tẩy chiêu trò bịp bợm, xảo trá mang chế độ lính tình nguyện. Thực tế, đây chỉ là vỏ bọc bên ngoài để che đậy tội ác man rợ của quân xâm lược, đối xử với nhân dân Đông Dương như “vật liệu biết nói” phục vụ cho chiến trường.

Sau khi chiến tranh kết thúc, những người dân vô tội kia lại trở thành “giống người bẩn thỉu”, lời hứa trao tặng “phẩm hàm” cũng không còn. Bọn thực dân cầm quyền tiếp tục bộc lộ bản chất xấu xa và lật lọng kiểu “lá mặt lá trái” khi phủ nhận sự hy sinh của các “thế thân”.

Khai thác hiện thực trần trụi nhưng từng lời văn, câu chữ Bác viết ra vẫn chứa đựng tình yêu thương, cảm thông cho những kiếp người bị đọa đày. Từ niềm đau xót đồng bào, vị lãnh tụ ấy còn thấu cảm cả sự mất mát của nhân dân các nước thuộc địa.

Lên đầu trang