Thành ngữ “Ông Tơ bà Nguyệt” được sử dụng để chỉ những kẻ mối lái trung gian chuyên xe duyên cho đôi lứa, giúp đỡ người khác về việc dựng vợ gả chồng thời xưa. Đây cũng là một hình tượng độc đáo trong truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam.
Ý nghĩa của thành ngữ Ông Tơ bà Nguyệt
Trong xã hội phong kiến ngày xưa, việc hôn nhân do cha mẹ của hai bên định đoạt và thường tìm tới những người làm mối hoặc còn được biết đến với tên gọi khác là làm mai để nhờ sắp xếp.
Đây là khâu quan trọng trong quá trình kết hôn theo phong tục của Việt Nam thời xưa. Khi cha mẹ nhà trai tìm được người con gái vừa ý và môn đăng hộ đối thì sẽ nhờ một người thân quen, khéo léo xử sự đứng ra làm mối.
Sau khi nhận thông tin, người này ghé sang nhà gái và đưa ra lời dạm hỏi. Nếu được chấp thuận, bên đàng trai sẽ tiếp tục nhờ kẻ làm mối mang chim nhạn đến nhà bên kia, tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy.
Vì vậy, thành ngữ “Ông Tơ bà Nguyệt” ra đời để chỉ những người chuyên làm mai mối ấy, giúp nhiều đôi lứa nên duyên vợ chồng. Tuy nhiên ở xã hội hiện đại, công việc mối lai này cũng bị thay đổi ít nhiều.
Họ chỉ cung cấp thông tin và giới thiệu để hai bên có thể làm quen cũng như tiến tới hôn nhân, không đóng vai trò của người trung gian làm mối trong các nghi thức thời phong kiến.
Câu chuyện về thành ngữ Ông Tơ bà Nguyệt
Thành ngữ “Ông Tơ bà Nguyệt” còn xuất phát từ câu chuyện phổ biến trong dân gian ở Trung Quốc. Tương truyền rằng vào đời nhà Đường, người thanh niên tên Vi Cố khi tình cờ đi qua chợ đã gặp một bà già bị chột mắt bế trên tay đứa bé nhỏ.
Vào lúc này, có kẻ lạ mặt từ đâu đến và bảo đứa nhỏ này sau sẽ trở thành vợ của anh. Nghe vậy, Vi Cố lập tức nổi giận, bèn cho người lùng sục giết cô bé.
Mười bốn năm sau, anh chàng đã lấy Vương Thái, con gái quan Thái Sử Trương Châu. Nàng sở hữu dung nhan xinh đẹp làm say đắm lòng người, thế nhưng ở giữa lông mày lại có đính điểm một bông hoa vàng.
Sau khi gạn hỏi, Vi Cố mới vỡ lẽ vợ chính là đứa bé năm ấy và vết sẹo trên lông mày cũng do mình gây ra. Anh ngày đêm trằn trọc, luôn lo nghĩ rồi tự trách bản thân.
Vào đêm trăng sáng nọ, Vi Cố mơ thấy có con hạc từ đâu bay tới bên giường, đưa mình đến tận cung trăng. Tại đây, anh đã gặp hai ông bà già kỳ lạ là lão Tơ và Nguyệt Lão.
Sau khi giới thiệu, ông bà lão bèn se duyên cho đôi lứa trước sự ngỡ ngàng của Vi Cố. Chỉ thấy Lão Tơ dùng sợi tơ hồng buộc vào cổ chân hai người nam nữ, rồi Nguyệt lão lại vẩy lên tóc họ một thứ nước tiên.
Khi tỉnh giấc, nghĩ đến giấc mơ kỳ lạ và cuộc hôn nhân với vợ hiện tại, Vi Cố đã quyết định lập ra người mối lái để se duyên kết chỉ các cặp đôi, cũng đặt tên cho họ là Ông Tơ, bà Nguyệt.
Anh chàng vô cùng cảm kích vì đã được hai vị thần tiên chỉ dạy cách xe duyên, dùng chỉ hồng buộc cổ tay hoặc trầu cau để đặt lễ nên duyên vợ chồng.
Thành ngữ Ông tơ bà Nguyệt xuất hiện trong văn học dân gian
Như một lẽ tất nhiên, “Ông Tơ bà Nguyệt” thường gắn liền với tình yêu và nỗi lòng khát khao giao hòa của tuổi trẻ. Thành ngữ này xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt là cao dao.
Ở Anh về sao được mà về, tác giả dân gian đã vận dụng cách nói “Ông Tơ bà Nguyệt”. Sự lồng ghép khéo léo thành ngữ này khiến thi phẩm trở nên sinh động và gần gũi hơn với tầng lớp nhân dân lao động.
“Anh về sao được mà về, Dây giăng tứ phía tính bề gặp anh. Dây giăng mặc kệ dây giăng, Ông Tơ bà Nguyệt đón ngăn cùng về.” – Bài ca dao Anh về sao được mà về
Với thể thơ lục bát giàu nhịp điệu, tác giả dân gian đã khéo léo thể hiện tấm lòng chân thành của cô gái dành cho người mình yêu. Nàng dũng cảm vượt qua mọi lề thói và định kiến để bày tỏ nỗi lòng, chủ động kiếm tìm tình yêu.
Sự xuất hiện của “Ông Tơ bà Nguyệt” trong tác phẩm như một lời ngầm khẳng định rằng các vị thần tiên cũng đang chúc phúc cho chuyện tình này. Rồi họ sẽ nên duyên vợ chồng, sớm sống những tháng ngày hạnh phúc và yên bình bên nhau.
Ngoài ra, câu thành ngữ quen thuộc này còn xuất hiện trong bài ca dao Cây cao bóng cả duyên mòn. Trái ngược với Anh về sao được mà về, tác phẩm mang âm hưởng buồn thương, là lời tự tình của cô gái khi không được nên duyên với người mình yêu.
“Có anh như đũa có đôi, Vắng anh em vẫn ngậm ngùi nhớ thương. Khối tơ vương, ruột tằm vấn vít, Bởi ông Tơ bà Nguyệt chưa xe.” – Ca dao Cây cao bóng cả duyên mòn
Bằng lời thơ và câu chữ da diết, nhân vật trữ tình tác phẩm đã bộc bạch sự nhớ nhung đối với người mình yêu nơi biên cương. Đây cũng chính là tình cảnh chung của nhiều đôi lứa trong xã hội đương thời, khi họ bị chia cắt bởi chiến tranh.
Nhân vật bà mối trong Truyện Kiều
Truyện Kiều là một truyện thơ nổi tiếng được chấp bút bởi bậc đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Thế giới nhân vật trong tác phẩm vô cùng phong phú với nhiều lớp người, hệt như xã hội phong kiến thu nhỏ.
Trong Mã Giám Sinh mua Kiều, bên cạnh nàng Kiều và Mã Giám Sinh, tác giả còn khắc họa cả chân dung mụ mối. Bà xuất hiện xuyên suốt đoạn trích, là kẻ trung gian dựng nên cuộc hôn nhân nhưng thực chất là buôn bán người này.
“Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.” – Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
Trong trang thơ của Nguyễn Du, mụ mối tỏ ra rất tự giác cũng như sành sỏi với công việc này. Chính bà là người dẫn Mã Giám Sinh đến nơi, giục Thúy Kiều chào hỏi làm quen và thách giá cưới.
“Mối rằng đáng giá nghìn vàng
Dớp nhà, nhờ lượng người thương dám nài.” – Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
Bằng cách miêu tả tài tình của Nguyễn Du, Thúy Kiều không khác gì một món hàng được bà mối mang ra chào mời với Mã Giám Sinh. Cũng chính chi tiết này đã làm nên giá trị hiện thực cho tác phẩm, tái hiện hoàn cảnh đau khổ mà người phụ nữ xưa phải gánh chịu.
