Trong chương trình ngữ văn ở bậc phổ thông, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là tác phẩm hay nhưng khá khó đối với nhiều học sinh. Phân tích “Ai đã đặt tên cho dòng sông” như thế nào hay, súc tích, ăn điểm cao là câu hỏi được nhiều em đặt ra. Hướng dẫn lập dàn ý bài văn phân tích dưới đây sẽ giúp bạn tự tin làm văn ăn điểm nhé!
1/ Giới thiệu tác phẩm /tác giả/bối cảnh tác phẩm

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế, quê gốc ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông từng tốt nghiệp trường Đại học sư phạm Sài Gòn, là cử nhân Đại học văn khoa Huế. Có một khoảng thời gian ông dạy học ở Quốc Học Huế. Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường lên chiến khu, tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, tích cực với các hoạt động văn hoá văn nghệ phục vụ kháng chiến.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tản văn, bút ký. Các sáng tác của ông nổi bật và khác biệt bởi sự kết hợp tinh tế, hài hoà giữa trữ tình và trí tuệ, giữa nghị luận với tư duy đa chiều. Những ấn phẩm nổi bật của ông có thể kể đến như: Ai đã đặt tên cho dòng sông, Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Rất nhiều ánh lửa, Miền cỏ thơm, Huế – di tích và con người hay Bản di chúc của cỏ lau….
Với những đóng góp của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường từng được bầu làm Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Trị Thừa Thiên Huế, chủ tịch Hội văn học Bình Trị Thiên và Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. Năm 2007, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng về văn học nghệ thuật.
Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thuộc thể loại bút kí được viết vào giữa tháng 1 năm 1981 với cảm hứng chủ đạo là ca ngợi quê hương đất nước. Đây là bài ký xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường được rút ra từ tập bút ký cùng tên. Đoạn trích ngắn gọn, súc tích, tập trung ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, qua đó thể hiện tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của tác giả.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 ở Huế, là một trong những cây bút ký xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhờ vốn hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực, các sáng tác của ông luôn mang hơi thở của cuộc sống, chân thật và sâu sắc.
– Tác phẩm: “Ai đã đặt tên cho dòng sông” được tác giả viết năm 1981, rút ra từ tập bút ký cùng tên. Bài ký lấy cảm hứng từ dòng sông Hương thơ mộng. Với phong cách nghệ thuật độc đáo, tác phẩm đã thể hiện rõ cái tôi trữ tĩnh và vẻ đẹp rất riêng của thiên nhiên và con người xứ Huế.
2.2 Thân bài
a. Giải thích nhan đề tác phẩm
- Nhan đề là một câu hỏi tu từ, hướng người đọc đến nội dung tác phẩm: Đi tìm nguồn gốc của dòng sông Hương.
- Qua đó, tác giả nhấn mạnh vẻ đẹp của dòng sông, thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã có công khai phá vùng đất ấy.
b. Khai thác vẻ đẹp của sông Hương

Sông Hương dưới góc độ địa lý
- Sông Hương nằm ở thượng nguồn. Nếu nhìn từ thượng nguồn, dòng sông ấy có mối quan hệ mật thiết với dãy núi Trường Sơn huyền thoại. Sông Hương không chỉ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn mà còn mang dáng vẻ trữ tình, hiện ra như một cô gái Di gan man dại, phóng khoáng.
- Tác giả sử dụng động từ mạnh, tính từ để so sánh, sử dụng phương pháp nhân hoá nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Qua đó, làm nổi bật vẻ đẹp kỳ vĩ của dòng sông “Rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn…”
Sông Hương trước khi chảy vào kinh thành Huế
- Sông chuyển dòng, ẩn trong hành trình giữa lòng Trường Sơn “ém chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Nó trở thành người tình chung thuỷ, dịu dàng của cố đô Huế.
Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế
- Dòng sông reo vui giữa vùng ngoại ô Kim Long với những bãi xanh biếc, nó kéo một nét thẳng thực theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, uốn cung nhẹ nhàng đến Cồn Hến. Dòng sông trở nên mềm mại như một tiếng “vâng” của tình yêu chưa được nói ra.
- Sông hương là con sông duy nhất chảy vào thành phố Huế, là niềm tự hào của con người nơi đây.
- Nhìn dưới con mắt hội hoạ, sông Hương cùng các nhánh, chi lưu của nó góp phần tạo nên vẻ đẹp cổ kính của xứ Huế.
- Ở đây, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá nhằm nội tâm hoá dòng sông “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” Biện pháp tu từ nhân hoá đã giúp thổi hồn vào dòng sông, biến nó thành một thực thể sống với nhiều cảm xúc và nỗi niềm.
Sông Hương dưới góc nhìn lịch sử
- Dòng sông ấy không còn là cô gái Di gan man dại, cũng không phải là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá…” mà trở thành nhân chứng của lịch sử, gắn với nhiều biến cố lớn của cố đô Huế, của đất nước. Sông Hương được ví như “Sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc”
- Trên dòng sông Hương người ta nhìn thấy những dấu tích lịch sử: Những cây đa, cây cừa cổ thủ, từng nhánh sông nhỏ in dấu… Đến đây, ngòi bút vốn đậm chất trữ tình nhường chỗ cho ngòi bút đậm chất phóng sự gắn với những sự kiện, những dấu ấn lịch sử khó quên.
- Sông Hương là linh giang của tổ quốc, là nhân chứng của bao biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc
Sông Hương dưới góc độ văn hoá
- Sông Hương là dòng sông âm nhạc. Những âm thanh đặc biệt từ dòng sông: Tiếng chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng, tiếng nước vỗ mạn thuyền…. đã trở thành làn điệu quen thiệu, da diết trong nền âm nhạc cổ điển của cố đô. Sông Hương cũng trở thành khởi nguồn của những câu hò Huế thiết tha, xao xuyến lòng người.
- Sông Hương còn là dòng sông thi ca: Tản Đà viết về Huế “ Dòng sông trắng – lá cây xanh” còn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại viết “màu cỏ lá xanh biếc”. Hình như, giữa hai tâm hồn nghệ sĩ này có sự tương giao về cảm xúc. “Sắc biếc” trở thành nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế.
2.3 Kết luận
– Khái quát nội dung của tác phẩm: Đó là những trang viết tài hoa, bài ký với những xúc cảm chân thực, sâu sắc về vẻ đẹp của dòng sông Hương trữ tình vốn được xem là cái nôi của văn hoá Huế.
– Nghệ thuật: Ngôn từ phong phú, súc tích, giàu chất thơ, văn phong hướng nội, lối liên tưởng, so sánh độc đáo, tài hoa và uyên bác. Tác phẩm thể hiện niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả đối với thiên nhiên, con người xứ Huế nói riêng và đất nước nói chung.
3/ Viết 1 bài văn mẫu

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” là bài bút ký xuất sắc của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường viết năm 1981. Tác phẩm là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và chất trí tuệ, hành văn mượt mà, tài hoa nhưng không kém phần chân thực. Vốn nhà nhà văn mang nặng ân tình với xứ Huế nên những sáng tác về Huế của ông bao giờ cũng chân thực, gần gũi. Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã lột tả được trọn vẹn vẻ đẹp, linh hồn của dòng sông Hương, con sông mang đặc trưng rất Huế.
Nhan đề của tác phẩm thực sự khiến người ta tò mò. Câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm gợi mở nội dung của bài ký đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương huyền thoại. Nhà văn đã ca ngợi dòng sông ấy dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu nhìn sông hương từ phương diện địa lý sẽ thấy cảnh sắc ở đây tươi đẹp và vô cùng quyến rũ.
Dòng sông ấy khi chảy trong rừng núi Trường Sơn giống như một bản trường ca huyền bí, thâm u. Đây cũng chính là khởi nguồn của dòng chảy, nối liền con sông với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Dưới ngòi bút của tác giả, dòng sông toát lên vẻ đẹp vừa trữ tình vừa hùng vĩ, mang một nguồn sống dạt dào, mãnh liệt.
Hoàng Phủ Ngọc Tường ví dòng sông ấy như cô gái Di gan quyến rũ “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di gan phóng khoáng và gan dạ”. Biện pháp tu từ nhân hoá đã được khai thác một cách triệt để, gợi lên vẻ đẹp hoang sơ nhưng không kém phần trữ tình của dòng sông.
Ra khỏi cánh rừng già, dòng sông ấy lại khoác lên mình vẻ đẹp dịu dàng. Dòng sông trở thành nơi ghi dấu các chứng tích lịch sử, bảo tồn, giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống Huế. Nhà văn đã rất tinh tế khi khám phá từng vẻ đẹp của dòng sông từ nhiều góc nhìn khác nhau “ Dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”
Quả không hổ danh là nhà ký sự tài ba, con mắt quan sát của tác gia đã nhìn thấy sự thay đổi nhanh chóng của dòng sông Hương sau một giấc ngủ dài. Dòng sông lúc này như một người con gái đẹp tỉnh giấc giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại. Hành trình của sông Hương từ đây được ví như người con gái đẹp đang đi tìm kiếm tình yêu đích thực của mình.
Về xuôi, vẻ đẹp của sông Hương càng rực rỡ. Qua từng địa danh khác nhau, nó lại khoác lên mình một vẻ đẹp tươi mới, khác biệt: như tấm lụa mềm hay tươi xanh thăm thẳm. Khi chuẩn bị chảy vào thành phố Huế cổ kính, sông Hương được ví như người tình duyên dáng, vui tươi. Mặt sông sông sáng rạng, vui hẳn lên bởi tiếng chuông chùa Thiên Mụ quen thuộc. Dòng sông như một người con gái đẹp đang làm duyên. Đến lúc chảy vào thành phố Huế, dòng sông không còn mang cái hoang sơ, man dại của đại ngàn mà trở nên tình cảm, yên bình.
Bằng vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả vẻ đẹp của sông Hương một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất. Trong lòng phố Huế, dòng nước chảy chậm, mặt hồ yên tĩnh. Tác giả lý giải “điệu chảy lững lờ” hay “ngập ngừng muốn đi muốn ở” của dòng sông là bởi nặng tình với xứ Huế. Trong lòng ông, xứ Huế như một phần máu thịt, không nỡ rời xa. Hơn thế, dù có rời xa thành phố ấy thì sông Hương với ông vẫn mãi mãi là một người tình thuỷ chung.
Không chỉ khám phá vẻ đẹp của dòng sông dưới góc độ địa lý, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn nhìn thấy vẻ đẹp của dòng sông dưới góc độ lịch sử. Qua mỗi thời kỳ lịch sử, dòng sông là nhân chứng của nhiều trận đánh quyết liệt. Đó là dòng sông “vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII”.
Dù ở thời kỳ lịch sử nào, sông Hương đều có nhiều đóng góp vào thắng lợi lớn của tổ quốc. Trong thế kỷ XX, dòng sông gắn với chiến công rung trời của cách mạng tháng Tám năm 1945. Tác giả thật tài tình khi gắn sông Hương với những thời điểm lịch sử trọng đại khác nhau. Từ đó, ông ngầm khẳng định rằng: Sông hương là dòng sông thiêng liêng, vĩ đại.
Trong thi ca Việt Nam, sông Hương thơ mộng từng là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Nó khơi nguồn cho âm nhạc, là đề tài cho nhiều sáng tác thơ văn. Quả không sai khi Hoàng Phủ Ngọc Tường ca ngợi nó là dòng sông âm nhạc bởi gắn liền với nhiều ca khúc hay về Huế. Đó cũng chính là nơi giao thoa, gặp gỡ giữa âm nhạc cổ điển với những câu hò dân gian.
Sông Hương khi dữ dội, khi man dại, khi e ấp thiết tha… trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thi cả mọi thời đại “từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực sự bất ngờ, dòng sông trắng – lá cây xanh…”. Mỗi tác giả sẽ khám phá sông Hương theo cái nhìn riêng của mình nhưng chắc chắn một điều: Dòng sông ấy luôn thơ mộng và không thể pha lẫn với bất cứ dòng sông nào khác.
Thông qua dòng chảy của con sông, tác giả còn giúp người đọc khám phá ra tính cách của con người Huế. Ông nhìn thấy sông Hương như một người phụ nữ dịu dàng, xinh đẹp, tài hoa, sâu sắc, kín đáo, đa tình, lẳng lơ nhưng vẫn hết mực chung tình. Cô gái Huế vừa mang vẻ đẹp nữ tính như một người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, có khi man dại, phóng khoáng như cô gái Di gan. Hơn thế, sông Hương trong con mắt tác giả còn mang vẻ đẹp đa tình được thể hiện rõ trong mối quan hệ với thành phố, đó là quan hệ tình nhân lý tưởng giống như trong truyện Kiều “Tìm kiếm và đuổi bắt, thi ca và âm nhạc, hào hoa và đam mê”
Trong hành trình khám phá vẻ đẹp của sông Hương từ thượng nguồn đến hạ lưu, tác giả nhận thấy: Đó là dòng sông của vùng đất văn hoá truyền thống lâu đời. Ở đây, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chú trọng khám phá dòng sông theo chiều rộng địa lý mà chú trọng theo chiều sâu của lịch sử. Vì thế, khi đọc tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” chúng ta sẽ có những liên tưởng độc đáo gắn với những trang sử hào hùng của dân tộc.
Ai từng đến sông Hương đều có cảm nhận riêng. Mỗi sáng tác về dòng sông ấy giường như chưa bao giờ lặp lại. Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chứng tỏ cái tôi, cái riêng trong cảm nhận và miêu tả về thiên nhiên, con người xứ Huế. Nếu Văn Cao gắn liền với dòng sông Lô hùng Tráng, Hoàng Cầm da diết với nỗi nhớ khi đi qua dòng Mã, Hoài Vũ mãi mãi là nhờ thơ của sông Vàm Cỏ thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại gắn liền với dòng sông Hương. Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thực sự chạm đến trái tim người đọc. Với người dân xứ Huế, nó như một phần máu thịt, người ta nhìn thấy trong đó văn hoá, lịch sử, âm nhạc… rất riêng của Huế.
Có thể nói, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một bút ký thật sự xuất sắc, đã hoạ vào trong lòng người đọc một bức tranh về Huế, về sông Hương tuyệt đẹp, vừa dịu dàng, e lệ vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Nó như lời chào mời, kêu gọi độc giả một lần đến thăm Huế, đứng trên cầu Tràng Tiền để chiêm ngưỡng dòng sông ấy một cách thoả thích. Với văn phong hướng nội, ngôn ngữ phong phú, đậm chất thơ, hình ảnh giàu sức liên tưởng, tác giả đã khắc hoạ thành công vẻ đẹp của sông Hương. Qua tác phẩm, chúng ta cảm nhận rõ niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả với xứ Huế thân yêu.





