Hướng dẫn phân tích Cảnh Khuya hay nhất, giúp ăn điểm 9, 10

Làm sao để phân tích Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh ăn điểm cao là lo lắng của nhiều sĩ tử? Muốn tự tin hoàn thành tốt bài thi bạn nên tham khảo hướng dẫn sau.

Đôi nét về Hồ Chí Minh - Cuộc đời cách mạng và sự nghiệp sáng tác
Đôi nét về Hồ Chí Minh – Cuộc đời cách mạng và sự nghiệp sáng tác

1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Tên khai sinh của người là Nguyễn Sinh Cung, quê tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Thân sinh của Bác là cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan. Vốn sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, có truyền thống hiếu học, lớn lên giữa cảnh nước mất nhà tan đã sớm hun đúc nên ở Người tinh thần ham học hỏi và chí căm thù giặc sâu sắc.

Năm 1911, Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Bước ngoặt cuộc đời Bác là vào năm 1920, đọc được Luận cương Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, chấm dứt một thời kỳ dài cách mạng Việt Nam bế tắc về đường lối. Đến năm 1930, tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc, Người đã sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một chính Đảng lãnh đạo.

Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người chủ trì hội nghị trung ương VIII, thành lập mặt trận Việt Minh, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thành công. Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, dưới sự dẫn dắt của Người, cách mạnh Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người chính là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, là vị cha già kính yêu, đã lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập, thống nhất tổ quốc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Không những thế, Hồ Chí Minh còn là nhà thơ lớn của dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Người đã thành công với nhiều thể loại, để lại nhiều tác phẩm có giá trị lớn cả về mặt lịch sử và văn chương:

  • Văn chính luận gồm: Bản án chế độ thực dân Pháp nhằm tố cáo tội ác của kẻ thù, kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đoàn kết đấu tranh. Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào ngày 2/9/1945, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946 là lời hiệu triệu toàn dân tộc đứng lên chống Pháp khi chúng quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ 2.
  • Truyện gồm có: Vi hành, Những trò lố hay là Va ren và Phan Bội Châu
  • Thơ gồm có: Nhật kí trong tù, Thơ Hồ Chí Minh.

Tuy mục đích sáng tác thơ văn của Hồ Chí Minh là để phục vụ kháng chiến nhưng bằng tài năng, sự nhạy bén, khả năng quan sát tinh tế, những sáng tác của người trở thành những áng thơ văn có giá trị nghệ thuật cao. Bài thơ Cảnh Khuya được người viết vào năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc. Lúc này cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa bùng nổ. Bố cục bài thơ gồm 2 phần:

  • Phần 1: 2 câu thơ đầu miêu tả cảnh trăng sáng, thiên nhiên tươi đẹp nơi núi rừng Tây Bắc
  • Phần 2: Hai câu thơ còn lại: Thể hiện tình cảm của tác giả trước vẻ đẹp của cảnh sắc nơi đây.

Nội dung bài thơ tập trung miêu tả cảnh trăng sáng nơi chiến khu Việt Bắc những năm đầu kháng chiến chống Pháp, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu nước sâu sắc của Người. Đọc bài thơ ta cảm nhận rõ phong thái ung dung, lạc quan của người trong điều kiện chiến tranh khốc liệt nhất.

Cảnh Khuya được viết theo thể Thất ngôn tứ tuyệt, hình ảnh thiên nhiên được người vẽ lên thật đẹp, bình dị, gần gũi. Với ngôn từ trong sáng, sử dụng đồng thời nhiều biện pháp tu từ: Điệp ngữ, so sánh…, Cảnh Khuya trở thành một trong những bài thơ hay giúp chúng ta yêu hơn những vần thơ của Bác.

2/Lập dàn ý cho bài phân tích bài thơ Cảnh Khuya

Lập dàn ý phân tích bài thơ Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh
Lập dàn ý phân tích bài thơ Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh

a. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, là lãnh tụ kính yêu, là cha già của dân tộc đã cống hiến trọn cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Người không chỉ là người chiến sĩ cộng sản kiên trung mà còn là nhà thơ lớn với nhiều sáng tác thơ văn có giá trị

– Đôi nét về bài thơ Cảnh Khuya: Bài thơ được Người viết năm 1947 tại Việt Bắc lúc cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp vừa bùng nổ. Giữa cuộc kháng chiến gian khổ ấy, Bác vẫn giữ phong thái ung dung, tự tại, lạc quan, yêu đời, cho mình những phút giây thảnh thơi để thưởng thức vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên nơi đây. Đó cũng chính là nguồn động lực quan trọng giúp người luôn giữ vững chí khí trong suốt những năm tháng sống ở chiến khu Việt Bắc.

b. Thân bài

Phân tích câu 1 và câu 2

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

– Không gian bài là là đêm khuya tĩnh lặng, lặng tới mức người ta nghe rõ mồn một tiếng nước suối chảy róc rách. Tiếng suối ấy du dương như tiếng nhạc.

– Tác giả sử dụng cách ngắt nhịp 2-1-4, cụ thể là ngắt ở từ trong rồi lại so sánh với: Tiếng hát xa.

– Đó là cách so sánh thú vị giúp làm bật nổi sự tương đồng giữa tiếng hát và tiếng suối. Qua đó cho thấy sự nhạy bén, tinh tế trong cách cảm nhận của Hồ Chí Minh.

– “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”: Giữa không gian tĩnh mịch, ánh trăng sáng tỏ chiếu tỏ mặt đất và cảnh vật. Câu thơ là sự kết hợp hài hòa giữa những mảng màu tối, sáng đan xen tạo nên một khung cảnh thật thơ mộng: Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Bóng trăng và bóng cây lồng vào nhanh một cách huyền ảo, đẹp lung linh.

– Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã cho thấy nghệ thuật miêu tả tinh tế, phong phú của nhà thơ: Có gần, có xa, có cao, có thấp, có tĩnh, có động…. dệt nên một bức tranh cuốn hút lòng người.

Phân tích câu 3 và câu 4

“Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

– Điệp ngữ “Chưa ngủ” lặp lại trong câu thơ cho thấy sự chuyển hóa bất ngờ nhưng rất tự nhiên của tâm trạng đồng thời gợi mở hai nét tâm trạng của thi sĩ: Chưa ngủ vì cảnh thiên nhiên tươi đẹp và chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, lo vận mệnh đất nước, lo cuộc kháng chiến trường kỳ liệu có thành công.

– Thiên nhiên dù đẹp đến bao nhiêu, thơ mộng như thế nào cũng không làm Bác quên đi trách nhiệm lớn nhất của người lãnh tụ cách mạng tối cao với dân với nước. 2 câu thơ thể hiện sự gắn bó khăng khít giữa con người thi sĩ và con người chiến sĩ kiên trung trong Hồ Chí Minh.

c. Kết luận

– Cảnh khuya là một bài thơ hay có sự kết hợp hài hòa giữa tính cổ điện và tính hiện đại: Hình thức (cổ điển) – Nội dung (hiện đại)

– Bài thơ cho người đọc thấy rõ: Tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, tinh tế của Bác, trách nhiệm cao cả đối với non sống đất nước. Đây là minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ của người bởi sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố nghệ sĩ và chiến sĩ trong hồn thơ của Bác.

3/ Viết 1 bài văn mẫu phân tích bài thơ Cảnh Khuya

Bài văn mẫu phân tích Cảnh Khuya
Bài văn mẫu phân tích Cảnh Khuya

Hồ Chí Minh là vị cha già kính yêu, anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ cộng sản kiên trung, là chính trị gia lỗi lạc của Việt Nam và thế giới. Không những thế, Người còn là danh nhân văn hóa thế giới, là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng với nhiều sáng tác xuất sắc. Cảnh Khuya là một trong những bài thơ hay của Người. Ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp đang diễn ra cam go (1947), bài thơ là một chút thả hồn vào thiên nhiên của Bác sau những giờ phút lo nghĩ việc nước. Cảnh Khuya được viết bằng chữ quốc ngữ vừa mang tính cổ điển vừa mang tính hiện đại. Không gian thơ vẫn là cảnh núi rừng Việt Bắc quen thuộc nhưng được mở ra theo một góc nhìn khác.

Bài thơ mở đầu bằng âm thanh vang vọng từ núi rừng: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Đây là tiếng suốt hay tiếng người? Hình như là sự hòa quyện của cả hai, rất khó để phân biệt. Phải thừa nhận rằng: Khả năng liên tưởng và so sánh của người thật đặc biệt nhưng rất thực tế. Câu thơ nhờ thế mà trở nên sinh động, làm cho khung cảnh núi rừng Tây Bắc trở nên thi vị bởi có đủ âm thanh, ánh sáng và màu sắc. Nó khiến người ta nhớ đến những vần thơ của Nguyễn Trãi “Côn sơn suối chảy rì rầm. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

Nếu Nguyễn Trãi lấy thiên nhiên để đo chuẩn mực của cái đẹp thì trong thơ Bác hoàn toàn ngược lại, con người là chủ thể là chuẩn mực của cái đẹp. Sự thay đổi trong cách nhìn, cách cảm của Hồ Chí Minh đánh dấu một sự chuyển mình quan trọng của thơ ca đương đại. Ở đây, Người so sánh tiếng suối với tiếng hát một cách gợi cảm, nó làm cho âm thanh của tiếng suối trở nên gần gũi hơn, thân thiết hơn với con người.

Thiên nhiên tươi đẹp trong bài thơ Cảnh Khuya
Thiên nhiên tươi đẹp trong bài thơ Cảnh Khuya

Tiếng suối vốn chỉ được cảm nhận bằng thính giác nhưng Người nghe tiếng suối mà cảm nhận được mức độ trong suốt của dòng chảy. Hẳn dòng nước suối Tây Bắc rất trong, rất ngọt mát, nó là món quà rất khác biệt mà thiên nhiên ban tặng cho những người chiến sĩ sau chặng đường dài hành quân mệt mỏi.

“Tiếng hát xa” phải là âm thanh giọng hát rất cao, rất trong mới có sức lan tỏa ra xung quanh để những người ở xa vẫn có thể cảm nhận được. Tiếng hát ấy vang lên trong khung cảnh yên lặng nên con người mới cảm nhận được, nếu không sẽ bị hỗn tạp bởi nhiều âm thanh khác. Sự thú vị của Hồ Chí Minh trong câu thơ này là ở cách so sánh độc đáo: Âm thanh của tự nhiên với tiếng hát của con người.

“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”, ta từng bắt gặp hình ảnh này trong nhiều bài thơ cổ. Trong thơ Bác, hình ảnh đó tiếp tục được sử dụng nhưng theo một cách khác: Sự kết hợp giữa trăng và hoa – sự quấn quýt không thể tách rời. Từ “lồng” liên kết ba sự vật lại với nhau vẽ lên một bức tranh trong sáng, tuyệt đẹp.

Điệp từ “Lồng” cho thấy sự xuyên tỏa của ánh trăng tới vạn vật tạo nên sự hòa quyện. Cảnh vật dưới tác động của ánh trăng trở nên đẹp đẽ, muôn màu. Nhiều người nói: Câu thơ giống như một bức tranh duyên: Ánh trăng lan tỏa bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại phủ lên những cành hoa. Từ lồng được Người sử dụng một cách đắt đỏ, được ví như “nhãn tự” của câu thơ. Chỉ với một từ thôi, cảnh vật trở nên gắn kết, giao hòa, nương tựa vào nhau.

Thực tế, trăng thường xuất hiện trong thơ Bác “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Trong bài thơ Cảnh Khuya, hình ảnh trăng lại xuất hiện nhưng theo một cách đặc biệt hơn. Với bốn nét vẽ: Suối, trăng, cổ thụ, hoa,tả ít nhưng gợi nhiều Người đã làm nổi bật cái hồn của cảnh núi rừng Tây Bắc về đêm. Trong khung cảnh ấy, người ta thấy xuất hiện một thi sĩ, một chiến sĩ cộng sản với tâm hồn thư thái, ung dung, tự tại, một tâm hồn tĩnh nhưng không lặng bởi nỗi niềm nước nhà.

Đọc câu thơ chúng ta như lạc vào chốn tiên cảnh, được tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc với đủ âm thanh, ánh sáng diệp kỳ, có tiếng suối róc rách, trong veo. Câu thơ vừa có tĩnh vừa có động, vừa có mảng sáng, mảng tối chen lẫn vào nhau tạo nên một tổng thể hài hòa. Phải là một tâm hồn nhạy cảm, con mắt quan sát tinh tế Bác mới nghe và mới cảm được những điều tuyệt vời ấy.

“Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Mạch thơ có sự thay đổi rõ ràng. Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc tươi đẹp thì hai câu thơ cuối là nỗi niềm của nhà thơ. Điệp từ chưa ngủ lặp lại ở câu thơ mở ra hai dòng tâm trạng của Người: Bác chưa ngủ vì say mê vẻ đẹp của thiên nhiên và chưa ngủ vì ưu tư, lo lắng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Với cương vị là lãnh tụ tối cao của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, người luôn trăn trở: Làm cho cho nước Việt Nam được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”

Hai dòng tâm trạng này không hề mâu thuẫn nhau mà hòa hợp, thống nhất trong tâm hồn Bác. Người ngắm cảnh, say mê cảnh đẹp nhưng không bao giờ quên nỗi lo nước nhà. Thiên nhiên giúp Người thư giãn sau những giờ làm việc mệt mỏi, tiếp thêm sức mạnh để Bác tiếp tục hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình: Lãnh đạo toàn dân tộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng chân dung Bác hiện lên thật đẹp đẽ và cảm động. Nó làm sáng ngời phẩm chất, nhân cách cao đẹp của vị cha già dân tộc.

Trong nỗi niềm lo lắng về vận nước, giữa khung cảnh tĩnh mịch, thiên nhiên trở thành người bạn tri kỷ của Người. Nó giúp Bác giải tỏa lo âu, muộn phiền. Ẩn trong bài thơ là ước nguyện lớn lao của Người: Mong cuộc kháng chiến sớm kết thúc, đất nước hòa bình, nhân dân ấm no, nhà nhà, người người đều được thảnh thơi ngắm núi non, ngắm trăng, ngắm mây trời…

Ta bắt gặp trong bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” với những vần thơ “Chú cứ việc ngủ ngon/Ngày mai đi đánh giặc/Bác thức thì mặc Bác/Bác ngủ không an lòng”. Nếu trong bài thơ viết về Bác của nhà thơ Minh Huệ: Bác không thể chợp mắt vì lòng không an, lòng bận việc nước thì trong Cảnh Khuya Người cũng không ngủ được vì lo nỗi nước nhà.

Điều này âu cũng dễ hiểu vì cả cuộc đời Bác dành trọn cho non sông đất nước. Trong trái tim Bác phần nhiều dành cho tổ quốc. Mọi trăn trở lo âu của Người cũng chỉ vì việc nước. Bài thơ dường như tách thành hai mảnh rõ ràng: 2 câu thơ đầu là khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc tuyệt đẹp chờ người thưởng thức còn một bên là thực tại chênh vênh: Cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, vận mệnh dân tộc chưa biết sẽ như thế nào? Bài thơ ngắn gọn nhưng trọn vẹn, đủ đầy ý nghĩa: Cho thấy một tâm hồn thi sĩ yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên với một trái tim đầy nhiệt huyết yêu nước, gánh vác trên vai sứ mệnh cao cả: Giải phóng dân tộc.

Với Bác, yêu thiên nhiên, yêu cây cỏ, yêu núi sông, yêu vầng trăng cũng là yêu đất nước vì nó là một phần của tổ quốc thiêng liêng. Trong thơ Người, tình yêu nước không tách rời tình yêu thiên nhiên, lòng mến cảnh vật. Có thể nói, Cảnh Khuya là bài thơ tứ tuyệt ấn tượng nhất của Bác. Nó là sự đan cài giữa hai thứ tình yêu: Thiên nhiên và đất nước trong một con người vĩ đại. Đọc bài thơ ta càng thêm yêu và biết ơn Bác – người cha già trọn đời vì nước non.

Lên đầu trang