Phân tích Chân quê của Nguyễn Bính chọn lọc, đặc sắc

Chân quê là bài thơ thể hiện rõ hồn thơ và phong cách thơ Nguyễn Bính. Làm sao để phân tích Chân quê ăn điểm cao? Dưới đây là hướng dẫn cho các sĩ tử.

Phân tích Chân quê của Nguyễn Bính chọn lọc hay nhất
Phân tích Chân quê của Nguyễn Bính chọn lọc hay nhất

1/ Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Nguyễn Bính tên khai sinh là Trần Trọng Bính, sinh năm 1918, mất năm 1966 tại làng Thiên Vịnh, Đồng Đội, Vụ Bản, Nam Định. Ông vốn xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm phải chịu cảnh mồ côi cha mẹ. Từ năm 1945 đến năm 1954, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Đến năm 1954, ông tập kết ra bắc, sau đó tham gia công tác văn nghệ và làm báo. Ngày 10 tháng 1 năm 1966, ông đột ngột qua đời.

Đôi nét về tác giả Nguyễn Bính và bài thơ Chân quê
Đôi nét về tác giả Nguyễn Bính và bài thơ Chân quê

Các sáng tác tiêu biểu trong cuộc đời Nguyễn Bính có thể kể đến như: Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, mười hai bến nước, Gửi người vợ miền Nam, truyện thợ Cây đàn tỳ bà. Phong cách thơ của ông mang đậm hồn quê. Vốn là nhà thơ nhảy cảm lại sống trong thời đại có nhiều xáo trộn và biến động đặc biệt, Nguyễn Bính luôn đau đáu nhiều nỗi niềm. Ông day dứt vì những giá trị văn hóa truyền thống ngày đang ngày càng bị mai một. Đó là lý do các sáng tác của Nguyễn Bính luôn mang âm hưởng hồn quê. Thơ ông đậm chất quê cả về nội dung lẫn hình thức, là sự hòa quyện giữa giọng điệu, lối nói, lời quê…

Vốn là người gắn bó với nông thôn Việt Nam nên dù viết về cảnh sắc nào thì thơ của Nguyễn Bính đều thắm đượm tình quê, duyên quê, hồn quê. Bài thơ Chân quê in trong tập Tâm hồn tôi năm 1937, được các nhà phê bình văn học đánh giá là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ Nguyễn Bính. Chân quê ẩn chứa nỗi niềm day dứt, là dự cảm không tốt của tác giả về những thay đổi sắp tới sẽ làm mất đi bản sắc truyền thống của quê hương.

Bài thơ được viết dưới hình thức biểu cảm với bố cục gồm 4 phần: Phần 1 từ đầu đến “em làm khổ tôi”, phần hai là đoạn tiếp theo đến “cái quần nái đen”, phần ba: Tiếp theo đến “cho vừa lòng anh”, phần 4 là phần còn lại. Chân quê được viết theo thể lục bát, giọng điệu tâm tình, tha thiết, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, đậm chất quê. Nội dung bài thơ là hình ảnh chàng trai đang đứng trước bi kịch: Muốn níu giữ vẻ đẹp chân quê cho người yêu sau khi đi tỉnh về. Chân quê chính là nỗi niềm, là day dứt của tác giả trước ảnh hưởng của lối sống phương tây xa lạ đang làm mai một dần nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp.

2/ Lập dàn ý bài văn phân tích Chân quê của Nguyễn Bính

Lập dàn ý bài văn phân tích Chân quê
Lập dàn ý bài văn phân tích Chân quê

2.1 Mở bài

– Giới thiệu khái quát về nhà thơ Nguyễn Bính: Là một ngòi bút tài năng trong phong trào thơ mới, các sáng tác của ông gắn với hồn quê, phong tục, tình cảm của những con người nơi làng quê.

– Giới thiệu về bài thơ Chân quê: Là bài thơ tiêu biểu cho phong cách và hồn thơ Nguyễn Bính. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu chân thành, sâu sắc với những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời.

2.2. Thân bài

– Giải thích nhan đề bài thơ

  • Chân quê là gốc gác của quê hương, là nền móng của quê hương, là nơi chúng ta sinh ra và lớn lên
  • Chân quê là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị nơi làng quê. Ở đó, con người sống chân thành, thẳng thắng, trong sáng, không vụ lợi. Cuộc sống thôn quê vì thế luôn yên bình, thanh thản, khác xa với sự náo nhiệt nơi phố phường.

= > Có lẽ vì yêu mến cái chân quê ấy mà tác giả đã đặt tên cho bài thơ của mình là “Chân quê”

– Nỗi buồn của chàng trai khi cô gái thay đổi

  • Cô gái đi tỉnh về có nhiều thay đổi: Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là những biểu tượng của cuộc sống đô thị. Sự thay đổi này khiến chàng trai lo lắng, khổ sở
  • Tác giả đưa ra những hình ảnh đối lập, quen thuộc: Yếm lụa sồi, khăn mỏ quạ, quần nái đen. Đó là hình ảnh gắn với vẻ đẹp dịu dàng, thướt tha của người con gái thôn quê.

– Lời van xin thiết tha của chàng trai

  • “Nói ra sợ mất lòng em”, rõ ràng, chàng trai luôn tha thiết người yêu của mình giữ nguyên vẻ đẹp quê mùa ban đầu.
  • Vẻ đẹp thôn quê ấy gắn liền với sự hiếu thuận với thầy u “Thầy u mình với chúng mình chân quê”
  • “Hoa chanh nở giữa vườn chanh”: Hoa chanh trắng tinh khiết, mùi thơm thoảng nhẹ là biểu tượng cho vẻ đẹp thuần khiết, giản dị, gắn bó với không gian làng quê Việt Nam.
  • “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”, thể hiện sự tiếc nuối của chàng trai khi hồn qua đang có sự phai nhạt trong lòng những người con gái chân quê.

Hình ảnh ẩn dụ sâu sắc giúp tác giả thể hiện tỏ nỗi niềm nhưng vẫn hết sức tinh tế, gần gũi, thân thuộc. Chàng trai kể ra hàng loạt bằng chứng để cô gái nhận thấy sự thay đổi của mình là hoàn toàn sai lầm: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/Thầy u mình với chúng mình chân quê/Hôm qua em đi tỉnh về/Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”.

Chàng trai khẳng định: Hoa chanh thì mãi là hoa chanh, loài hoa đồng nội chứ không thể là hoa tulip hay hoa đồng tiền. Vì thế, em giữ chân quê không chỉ cho riêng mình mà cho thầy u, cho xóm làng, cho quê hương đất nước. Lời lẽ đưa ra vô cùng xác thực, có sức thuyết phục cao.

– Nghệ thuật trong bài thơ

  • Chân quê được viết theo thể thơ lục bát truyền thống
  • Ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc, đậm chất dân gian
  • Giọng điệu bài thơ chân thành, tha thiết, nhẹ nhàng, đậm chất trữ tình.
  • Nghệ thuật đối lập: Trước – sau, nghệ thuật ẩn dụ: Hoa chanh, hương đồng, gió nói, điệp ngữ: Nào đâu… được sử dụng với giá trị biểu cảm cao.

2.3 Kết luận

Chân quê không đơn thuần là một bài thơ tình mà đó còn là tiếng lòng của tác giả, là mong muốn giữ gìn những nét đẹp văn hoá truyền thống, là tiếng nói trân trọng với đạo lý sống phải gắn với nguồn cội. Qua bài thơ, tác giả gửi gắm nỗi niềm yêu quê hương tha thiết, day dứt lo sợ bản sắc dân tộc bị mai một trong nhịp sống hiện đại hoá đương thời.

3/ viết 1 bài văn mẫu  

Văn mẫu phân tích bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính
Văn mẫu phân tích bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính

Trong phong trào thơ mới Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có rất nhiều gương mặt nổi bật. Trong đó, Nguyễn Bính là ngòi bút tiêu biểu nhất với cảm hứng sáng tác riêng, tìm về với hồn quê, với những giá trị truyền thống tốt đẹp. Bài thơ Chân quê được sáng tác năm 1936 là minh chứng tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tác của ông. Với giọng thơ nhẹ nhàng, tâm tình, tha thiết, ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc, chân thành, bài thơ để thể hiện rõ tâm trạng tiếc nuối và mong muốn gìn giữ những vẻ đẹp chân quê đang ngày càng bị xâm lấn.

Theo từ điển tiếng Việt, chân quê hiểu nôm na là gốc gác của quê hương, là gốc rễ của quê hương, nơi mà chúng ta sinh ra và lớn lên. Tuy nhiên, nếu giải thích dưới góc độ văn học thì chân quê là vẻ đẹp mộc mạc, bình dị ở làng quê, ở đó có những con người hiền lành, chất phác. Đó là sự giản dị trong lối sống, sự chân chất về tình cảm, đó là vẻ đẹp thanh bần nhưng không hề vụ lợi… Tất cả đều có thể gói gọn trong từ chân quê. Bởi lẽ đó, Nguyễn Bính đã quyết định đặt tên bài thơ của mình là “Chân quê”

“Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi”

Bài thơ Chân quê viết về chuyện tình yêu giữa một chàng trai với một cô gái thôn quê. Trong câu thơ đầu tiên, tác giả đã cho nhân vật em xuất hiện nhưng trong một bối cảnh hết sức đặc biệt “Đi tỉnh về”. Ngày xưa, từ quê muốn lên tỉnh rất khó khăn vì thiếu phương tiện đi lại. Đối với những người thôn quê quanh năm chỉ quanh quẩn ở bến nước, gốc đa, sân đỉnh thì “tỉnh” là một nơi thật xa lạ. Với những cặp đôi yêu nhau, khi cô gái lên tỉnh chắc chắn chàng trai sẽ lo lắng bởi cuộc sống thị thành náo nhiệt có thể làm cô gái thay đổi.

Khổ thơ đầu là tiếng nói của chàng trai đối với cô gái trong lần đầu đi tỉnh về. Cô gái đi tỉnh, trong những ngày tháng đó, chàng trai vô cùng nhớ thương, chờ đợi. Đến ngày cô gái trở về, anh đã đứng đợi ở con đê đầu làng. Hình ảnh con đê, gốc đa, bến nước, sân đình… là biểu tượng vẻ đẹp của làng quê Việt Nam từng xuất hiện trong nhiều câu ca dao, tục ngữ. Bốn từ đầu câu thơ “Con đê đầu làng” đều sử dụng thanh bằng, làm cho câu thơ như được kéo giãn ra theo niềm thương, nỗi nhớ của chàng trai. Cụm từ: Đợi mãi diễn tả một cách rõ nét sự sốt ruột, đứng ngồi không yên của chàng trai.

Khi cô gái xuất hiện với diện mạo hoàn toàn mới “Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/Áo cài khuy bấm em làm khổ tối”. Sự thay đổi ấy của cô gái khiến dòng tâm tư của nhân vật trữ tình cũng biến đổi theo. Rộn ràng là từ láy diễn tả cảm xúc vui tươi hoàn toàn đối lập với tâm trạng buồn bã, khổ sở của chàng trai.

Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là trang phục tân thời, ảnh hưởng từ phương Tây, hoàn toàn khác với trang phục giản dị ở thân quê. Diện mạo mới của cô gái khiến chàng trai phải thốt lên: “Em làm khổ tôi”. Âm điệu câu thơ hết sức tự nhiên giống như cách người ta xưng hô hàng ngày: Em và tôi.

“Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?”

Chàng trai bắt đầu đặt ra cho cô gái hàng loạt câu hỏi. Điệp từ: Nào đâu lặp lại hai lần đặt ở đầu mỗi câu thơ thể hiện sự ngỡ ngàng, tiếc nuối đến xót xa. Toàn bộ khổ thơ thứ hai đều là câu hỏi tu từ thể hiện phản ứng của chàng trai trước sự thay đổi của cô gái. Biện pháp tu từ liệt kê: Cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi, cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen… cho thấy nhà thơ luôn yêu và trân trọng trang phục truyền thống.

Chúng ta giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống ấy chính là yêu nước, là bảo vệ giá trị văn hoá lâu đời của cha ông. Chỉ sau vài ngày đi tỉnh  mà cô gái đã thay đổi cách ăn mặc khiến chàng trai bị sốc thực sự. Ở khổ thơ tiếp theo:

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa”

Khổ thơ chứa đựng sự yêu mến của Nguyễn Bính đối với người con gái dịu dàng bên khung cửi dệt vải thanh bình. Đến khổ tiếp theo là lời giãi bày trực tiếp của chàng trai đối với cô gái:

“Nói ra sợ mất lòng em

Van em!Em hãy giữ nguyên quê mùa”

Chàng trai hiểu rằng, nói ra sợ mất lòng cô gái, có thể bản thân cô muốn thay đổi để đẹp hơn trong con mắt chàng trai, để chàng yêu và thương mình hơn. Thế nhưng, sự thay đổi đó lại khiến chàng trai lo lắng. Bởi thế, chàng quyết định nói ra.

Tác giả không dùng từ xin mà là từ van với nghĩa là là van nài. Van nài mang hàm nghĩa: Chàng trai đã thấu hiểu tấm lòng của cô gái nhưng chàng mong cô hãy suy nghĩ lại. Chàng tha thiết người yêu của mình “Hãy giữ yên quê mùa”. Rõ ràng, chàng trai không làm điều gì sai để xin xỏ cô gái mà đây là sự nhờ vả, cầu khẩn cô gái. Có thể nói, Nguyễn Bính rất tài tình trong cách dùng từ, khó từ nào hoàn hảo và thay thế từ “van” trong trường hợp này. Đến câu thơ tiếp:

“Như hôm đem đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”

Đối với chàng trai, cách ăn mặc như hôm đi lễ chùa mới là đẹp nhất. Cái tài của tác giả trong câu thơ này là ở chỗ: Không ví dụ cách ăn mặc của cô gái trong trường hợp khác là lại chính là hôm đi lễ chùa. Trong văn hoá của người Việt, đi lễ chùa bao giờ người ta cũng phải ăn mặc kín đáo, chỉn chu để thể hiện sự tôn trọng và thành kính. Cách ăn mặc mới của cô gái sau khi đi tỉnh về hoàn toàn khác trước không chỉ khiến chàng trai phật lòng mà đất trời, thần linh cũng không ưng ý.

Để lời lẽ của mình thêm sức thuyết phục, chàng trai tiếp tục đưa ra những dẫn chứng “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/Thầy u mình với chúng mình chân quê”. Ở làng quê Việt Nam, hầu như gia đình nào cũng có cây chanh. Đó là loại cây gia vị thơm, hoa trắng tinh khiết. Câu thơ muốn giải thích rằng: Hoa chanh mãi là hoa chanh, thứ hoa đồng nội với hương thơm thoang thoảng không thể pha lẫn với bất cứ loài hoa nào, nó khác với hoa tulip, hoa đồng tiền.

Chàng tiếp lời, thầy u mình từ xưa đến nay đều chân quê vậy cớ sao mình phải thành thị nửa mùa. Chúng ta giữ gìn vẻ đẹp chân quê không chỉ cho bản thân mà cho bao nhiêu thế hệ bởi trong “Chân quê” có hồn dân tộc. Em gìn giữ chân quê không chỉ cho anh, cho em mà còn cho cả quê hương đất nước.

Từ những câu thơ bày tỏ cảm xúc đối với sự thay đổi của cô gái, cuối bài thơ, Nguyễn Bính bộc bạch cảm xúc của bản thân trước sự thay đổi đó “Hôm qua em đi tỉnh về/Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Dù cô gái có trở về “chân quê” thì tác giả vẫn thấy buồn mang mác bởi dù em vẫn là cô gái thôn quê nhưng hương phố xa hoa cũng đã vương vấn ít nhiều trong tâm hồn. Nó làm thay đổi phần nào cái “hương đồng gió nội” trong tâm hồn.

Đọc bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính người đọc cảm nhận rất rõ tâm hồn, tình yêu quê hương đất nước của ông. Nhà thơ luôn đau đáu trước những thay đổi của xã hội, trước sự xâm nhập của các yếu tố văn hoá phương Tây. Là bài thơ tình yêu nhưng qua câu chuyện tình yêu nam nữ ấy tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc tới bạn đọc: Hãy giữ gìn nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc bởi đó là cốt cách, là linh hồn ngàn đời của cha ông.

Lên đầu trang