Vợ Nhặt là tác phẩm nổi bật của nhà văn Kim Lân. Làm sao để phân tích nhân vật Tràng trong truyện ăn điểm là thắc mắc của nhiều bạn? Sau đây là hướng dẫn.
1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê tại làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông xuất thân trong một gia đình có khoản cảnh khó khăn nên chỉ được học hết bậc tiểu học sau đó vừa đi học vừa đi làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong và viết văn.
Năm 1944, ông tham gia Hội văn hóa cứu quốc rồi hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến trong nhiều năm liền. Trong thời gian này, Kim Lân vừa viết văn vừa làm báo, diễn kịch, đóng phim. Với những đóng góp to lớn của mình, năm 2001, ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật.
Phong cách sáng tác nghệ thuật của Kim Lân: Ông viết một cách chân thành và xúc động về tình cảnh, cuộc sống của người nông dân. Ông hiểu sâu sắc về số phận, cảnh ngộ, tâm lý của họ, những con người khốn khổ, thấp cổ, bé họng trong xã hội cũ nhưng vẫn gắn bó tha thiết với cách mạng. Ngòi bút của Kim Lân dù viết về phong tục, văn hóa hay con người thì trong đó luôn thấp thoáng hình ảnh cuộc sống con người và làng quê Việt Nam. Đó là những con người yêu đời, chất phác, thật thà, đôn hậu, hóm hỉnh, hài hước,….
Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Kim Lân đã để lại cho nền văn học Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị, nhất là mảng truyện ngắn viết về đề tài người nông dân như: Vợ nhặt, Làng, Con chó xấu xí, Nên vợ nên chồng, Người kép già, Đôi chim Thành…

Truyện ngắn Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí. Ban đầu, ông đặt tên truyện là Xóm ngụ cư, được viết sau cách mạng tháng 8 nhưng chỉ mới ở dạng bản thảo. Đến năm 1954 khi hòa bình lập lại, tác giả dựa vào cốt truyện cũ để hoàn thành truyện ngắn này với tên gọi là Vợ nhặt.
Bối cảnh của truyện là năm 1945 lúc nạn đói diễn ra khủng khiếp, hoành hành khắp cả làng quê. Lúc này người chết như ngả rạ, người sống cũng dật dờ như những đám ma. Trong xóm ngụ cư, Tràng là anh chàng xấu xí, thô kệch và ế vợ. Anh làm nghề kéo xe bò thuê, sống cùng một mẹ già. Thế rồi trong một lần kéo thuê xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, anh đã quen một cô gái. Chỉ vài ngày sau lần gặp đầu tiên, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy bởi sự đói rách, tiều tụy khiến cô khác trước nhiều. Thấy vậy, Tràng đã mời cô ăn một bữa, cô ăn liền một lúc bốn bát bánh đúc. Sau câu nói nửa đùa nửa thật, cô đã theo anh về nhà làm vợ.
Sự kiện Tràng nhặt được vợ khiến cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Bà cụ Tứ, mẹ của Tràng cũng ngạc nhiên, bàng hoàng, lo lắng. Rồi bà cũng hiểu ra mọi chuyện và chấp nhận nàng dâu ấy. Bữa cơm đón dâu của họ chỉ có nồi cháo cám. Tác phẩm kết thúc với chi tiết: Buổi sáng hôm sau, tiếng trống thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen, Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật. Trong đầu Tràng lúc này xuất hiện hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.
Bố cục truyện gồm 4 phần: Phần 1 là từ đầu đến hai tay ôm khư khư cái thúng,mặt bần thần (Cảnh Tràng đưa vợ về nhà). Phần 2 từ tiếp đó đến cùng đẩy xe bò về nhà giúp lý giải tại sao Tràng nhặt được vợ. Phần 3 từ tiếp đó đến nước mắt cứ chảy ròng ròng nói về cuộc gặp gỡ giữa nàng dâu mới với bà cụ Tứ. Phần 4 là phần còn lại.
Vợ Nhặt là truyện ngắn hay viết về tình cảnh người thê thảm của người nông dân Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Thông qua đó, tác giả ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và sức sống của họ: Dù trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, mong muốn được yêu thương, được đùm bọc, khát khao tổ ấm gia đình.
Với bút pháp phân tích tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, nghệ thuật độc thoại nội tâm nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên, kết cấu truyện đặc sắc, tình huống truyện độc đáo….. tất cả cùng góp phần làm nên thành công của tác phẩm.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1 Mở bài
- Giới thiệu khái quát về nhà văn Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt
- Khái quát hình tượng Tràng – nhân vật chính trong truyện
2.2 Thân bài
- Số phận, gia cảnh của Tràng
- Hình dáng: Đầu trọc nhẵn, lưng to bè như lưng gấu, áo nâu tàn, ngoại hình thô kệch, xấu xí
- Gia cảnh: Rất nghèo lại là dân ngụ cư
- Tình huống truyện: Tràng nhặt được vợ khiến cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, thậm chí Tràng cũng ngờ ngợ về điều đó. Chính tình huống truyện độc đáo, éo le, khác biệt đó là cơ sở cho diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật, góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.
- Tâm trạng của Tràng
- Ban đầu anh chợn nghĩ: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng thể hiện sự phân vân, do dự.
- Sau đó anh tặc lưỡi: Chậc, kệ. Thế là Tràng quyết định đưa người đàn bà xa lạ ấy về nhà để cưu mang. Tình huống này cho thấy sự nhân hậu của Tràng, thể hiện khát khao có gia đình, được sống hạnh phúc của những con người nghèo khổ.
- Trên đường dẫn vợ về, Tràng như trở thành một con người khác: Mặt hắn có vẻ phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười nụ một mình, ánh mắt thì sáng lên lấp lánh. Trước sự tò mò của người dân nơi xóm ngụ cư, người phụ nữ ấy càng thêm ngượng ngùng, chân nọ bước díu cả chân kia. Điều đó làm Tràng thích lắm, cái mặt hắn cứ vênh lên tự đắc.
- Khi về đến nhà: Tràng thấy sờ sợ vì chính hắn cũng không hiểu vì sao sợ. Đó là sự căng thẳng bởi lần đầu tiên có vợ.
→ Có thể thấy, Kim Lân đã thể hiện rất thành công hình ảnh, diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng khi có vợ. Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu cảm với số phận của người nông dân nghèo.
- Buổi sáng đầu tiên có vợ: Tràng thấy trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Anh chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì đó vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Bỗng nhiên hắn thấy yêu thương, gắn bó với ngôi nhà của mình đến lạ. Trong lòng Tràng có một niềm vui sướng, phấn chấn ngập tràn trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy mình có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.
- Truyện kết thúc với hình ảnh: Lá cờ đỏ Việt Minh tung bay trong đầu óc Tràng. Đó là cái kết mở có hậu, nhân vật được giác ngộ lý tưởng cách mạng và sẵn sàng tham gia Việt Minh để thay đổi cuộc đời và số phận của mình.
→ Tràng là người có phẩm chất tốt đẹp, luôn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm, gia đình và cuộc sống hạnh phúc. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm.
2.3 Kết luận
– Khái quát lạ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm
– Liên hệ, mở rộng vấn đề
3/ Viết 1 bài văn mẫu

Kim Lân là ngòi bút tiêu biểu của dòng văn học hiện thực Việt Nam. Trong cuộc đời sáng tác, ông đã để lại cho kho tàng văn học nước nhà nhiều tác phẩm đặc sắc. Trong đó, Vợ nhặt là tác phẩm tiêu biểu. Bối cảnh của truyện là những năm đen tối nhất, đau đớn nhất của lịch sử dân tộc với nạn đói cuối 1944 đầu 1945 khiến gần 2 triệu đồng bào ta chết đói. Chính trong hoàn cảnh đen tối, khổ cực ấy, tình người lại rực sáng hơn bao giờ hết. Vẻ đẹp của con người, của lòng nhân đạo được thể hiện rõ nét ở nhân vật Tràng,
Tên ban đầu của truyện là Xóm ngụ cư. Truyện được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công nhưng mới chỉ ở dạng bản thảo, đến năm 1954, tác giả dựa vào cốt truyện đã có để hoàn thành tác phẩm với tên gọi mới là Vợ nhặt. Xuyên suốt truyện là những bi kịch, oan trái, bi và hài kịch khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên, bất ngờ. Tuy nhiên, sau tất cả thì tấm lòng, tình yêu thương giữa những con người nghèo khổ vẫn chiến thắng.
Trong truyện, Tràng được nhà văn Kim Lân dụng bút, miêu tả rất nhiều. Anh chàng này là dân ngụ cư, sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, em gái và cha đã mất, gia đình chỉ còn lại mẹ và Tràng. Hai mẹ con anh sống trong một căn nhà xiêu vẹo mà bất cứ cơn bão nào cũng có thể thổi bay. Là dân ngụ cư hẳn ai cũng khổ tâm nhưng vì hoàn cảnh mẹ con Tràng không thể lựa chọn khác.
Ngoại hình Tràng thô kệch, xấu xí, gương mặt anh được Kim Lân đặc tả: Hai con mắt nhỏ tí, hai quai hàm thì bạnh ra, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước. Dù đã là người lớn nhưng tính cách anh có phần dở hơi: Thường trêu lũ trẻ con trong làng, đi đường thường nói chuyện một mình rồi ngửa đầu lên trời cười hềnh hệch. Dưới ngòi bút của Kim Lân, Tràng là hiện thân rõ nét của sự nghèo đói và bất hạnh: Là dân ngụ cư cuộc sống bấp bênh, không có ruộng đất để cày cấu, ngoại hình xấu xí, tính cách dở hơi… Hoàn cảnh đó như ngầm báo với người đọc: Tràng sẽ phải độc thân suốt đời.
Thế nhưng, đằng sau sự ngờ nghệch đó là một con người nhân hậu, có tấm lòng vị tha, yêu thương, đồng cảm với những người xung quanh. Tràng và người vợ gặp nhau một cách rất tình cờ. Trong một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, Tràng hát mấy câu vu vơ “Muốn ăn cơm trắng với giò lại đây mà đẩy xe bò với anh nì…”. Câu hò nhắc đến bữa ăn đã tác động đến người phụ nữ đã bị bỏ đói lâu ngày. Thế là thị lon ton chạy lại đẩy xe bò với Tràng. Lần gặp gỡ thứ hai, chỉ với bốn bát bánh đúc cùng câu nói nửa đùa nửa thật: “Này, nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Từ lúc này, Tràng chính thức có vợ. Việc Tràng có vợ như một câu chuyện vừa bi vừa hài. Cái hài nằm ở chỗ lấy được vợ quá nhanh chóng và dễ dàng. Bi ở chỗ: Trong khi nạn đói đang hoành hành, bản thân mình Tràng cũng chưa lo nỗi mà lại đèo bòng thêm người khác. Hơn nữa, đám cưới, bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của mẹ con Tràng chỉ có nồi cháo cám đạm bạc.
Có thể thấy, việc Tràng lấy vợ diễn ra quá chóng vánh, không có bất cứ sự chuẩn bị nào nhưng nó lại tác động lớn đến sự thay đổi của anh. Sau khi đưa vợ về nhà, tâm trạng Tràng thay khác hoàn toàn đi từ ngạc nhiên đến sung sướng, hạnh phúc và choáng ngợp. Anh không ngờ chỉ với câu nói đùa của mình là người đàn bà kia lại theo về thật. Tràng có chút lo lắng vì cái đói đang hoành hành nhưng niềm vui sướng đã choán hết tâm trí nên anh quyết định bỏ ra hai hào mua dầu về thắp cho sáng với ý nghĩ: “Vợ viếc gì thì cũng phải sáng sủa một tí chứ?”. Câu nói tuy quê kệch nhưng thể hiện sự tôn trọng của Tràng với vợ. Nó thắp lên trong lòng người niềm hy vọng, niềm tin vào tương lai phía trước. Sự hiện diện của người vợ đã làm cho cuộc sống của Tràng thay đổi.
Không chỉ thay đổi về tâm lý, tính cách của Tràng cũng không giống thường ngày. Sau khi có vợ, anh không trêu lũ trẻ trong làng, không làm bạn với chúng nữa. Hôm nay, anh đã nghiêm nét mặt, tỏ vẻ không hài lòng với chúng. Sự vô tư, hồn nhiên, có chút ngờ nghệch mọi anh đã biến mất, thay vào đó là dạng điệu của một con người trưởng thành. Sự thay đổi lớn nhất của Tràng là khi anh giới thiệu vợ với mẹ: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ…, chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau chẳng qua nó cũng là cái số cả…”. Thực không ngờ một con người vốn cục mịch, không được ăn học lại nói được những lời sâu sắc, ý nghĩa vậy. Tràng rất tinh tế khi nói ra điều này để cô vợ bớt xấu hổ. Anh dùng những lời lẽ trang trọng: Kiếp, duyên số để giải thích việc có vợ đột ngột của mình. Câu nói đó cho thấy sự trưởng thành trong suy nghĩ của nhân vật, giờ anh đã là người đàn ông thực thụ.
Kim Lân đã dành nhiều tâm huyết và bút mực để thể hiện sự thay đổi của Tràng. Buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ, anh cảm thấy sung sướng, hạnh phúc “Êm ái, lửng lơ như vừa bước từ giấc mơ ra”. Cùng với sự thay đổi về tích cách và tâm trạng, từ đây Tràng bắt đầu nhận thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với gia đình, phải vun vén hạnh phúc cho tổ ấm. Không dừng lại ở đó, Tràng còn biết lo cho người khác, không còn kiểu sống tạm bợ như trước đây, anh đã bắt đầu biết lo nghĩ cho tương lai của mình “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy có bổn phận phải lo cho vợ con sau này”
Sự thay đổi có nghĩa nhất của Tràng chính là sự thay đổi về nhận thức. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới cùng sự kiện Việt Minh phá kho thóc Nhật. Trước đây, Tràng hoang mang lo sợ khi nghĩ đến Việt Minh và cách mạng, giờ đây anh lại thấy ân hận, tiếc nuối vì đã không sớm gia nhập đội quân ấy. Tràng hiểu rằng, để có một cuộc sống mới, một gia đình hạnh phúc thì đi theo Đảng, theo cách mạng là điều tất yếu.
Như vậy, từ một anh phu xe cục mịch, sống vô tư đến ngờ nghệch, chỉ thích chơi đùa với lũ trẻ, giờ đây Tràng đã trở thành một con người hoàn toàn khác. Hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới trong tâm trí anh ở cuối truyện chính là tia sáng báo hiệu tương lai tốt đẹp ở phía trước.
Trong nạn đói cuối 1944 đầu 1945, Tràng không phải là trường hợp cá biệt, có rất nhiều anh Trang khốn khó như thế. Cuộc đời và số phận của Tràng là minh chứng tiêu biểu cho tình cảnh người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Người ta nghèo và đói đến mức bị coi thường, bị khinh rẻ, nghèo đến mức không thể lấy vợ và cũng vì cái đói mà hắn nhận được vợ chứ không phải cưới vợ. Tâm trạng của bà cụ Tứ khi con trai nhặt được vợ khiến người ta thực sự chua xót: “Không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không”
Với ngòi bút sắc sảo, cái nhìn nhân ái đầy tình yêu thương, Kim Lân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng nghèo đói nhưng nhân hậu, thật thà. Tác giả nhìn thấu diễn biến tâm trạng phức tạp, đan xen của nhân vật bởi hơn ai hết ông cũng là người trong cuộc, được nếm trải, được chứng kiến cái nghèo, cái đói đến tận cùng của người nông dân trước cách mạng.
Đọc Vợ nhặt của Kim Lân người ta thấy đau, thấy thương cho số phận của những con người bất hạnh trong xã hội cũ. Tác phẩm là bức tranh sống động về đời sống của người nông dân trong nạn đói 1945. Dù trong cái đói, họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp ẩn sâu trong tâm hồn. Đó là tình yêu thương giữa con người với con người, là trách nhiệm của gia đình và xã hội. Qua tác phẩm, bạn đọc cảm nhận được rất rõ tấm lòng của nhà văn, giá trị nhân bản của truyện ngắn.





