Hướng dẫn phân tích Qua Đèo Ngang chọn lọc hay nhất, ăn điểm cao

Qua Đèo Ngang là bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan. Làm sao để phân tích Qua Đèo Ngang ăn điểm cao là thắc mắc của nhiều sĩ tử? Dưới đây là gợi ý.

Đôi nét về Bà Huyện Thanh Quan và bài Qua đèo Ngang
Đôi nét về Bà Huyện Thanh Quan và bài Qua đèo Ngang

1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Bà Huyện Thanh Quan sinh năm 1805, mất năm 1848, tên khai sinh là Nguyễn Thị Hinh, quê tại làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà vốn là con gái của ông Nguyễn Lý, người nổi tiếng tài giỏi từng đỗ thủ khoa vào năm 1783, là danh sĩ nổi bật dưới thời Lê.

Bà là học trò cưng của Phạm Quý Thích, là vợ của Lưu Nghi – tức tri huyện Thanh Quan nên mới có tên gọi là Bà Huyện Thanh quan. Sau khi chồng chẳng may qua đời, Bà xin thôi không giữ chức Cung Trung Giáo Tập, trở về quê sống cuộc sống thanh nhàn.

Theo nhiều tài liệu ghi chép, Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ tài hoa trong nền văn học Việt Nam thời trung đại. Bà không sáng tác nhiều nhưng lại được đánh giá cao, được coi là những viên ngọc của thơ Nôm Đường luật. Thơ của bà chủ yếu viết về cảnh vật, thiên nhiên, con người, nỗi niềm tiếc nuối quá khứ, lo lắng trước những thay đổi của thời cuộc.

Thơ của bà rất trang nhã, cổ điển, ngôn ngữ được tinh luyện, mang đậm tinh thần nhân văn, lòng yêu nước, hoài cổ sâu lắng. Mỗi bài thơ là một bức tranh thủy mặc đẹp, ẩn chứa nhiều tâm tình, tĩnh lặng, u hoài mang đậm cốt cách của người Tràng An.

Tuy sống trong xã hội phong kiến, chịu nhiều thiệt thòi bởi định kiến trọng nam khinh nữ song Bà Huyện Thanh Quan vẫn khẳng định được tài năng nổi bật của mình, là một nữ danh sĩ mẫu mực đất kinh kỳ. Các sáng tác tiêu biểu của Bà có thể kể đến như: Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chiều hôm nhớ nhà, Tức cảnh chiều thu, Qua chùa Trấn Bắc. Trong đó, Qua đèo Ngang là sáng tác nổi bật được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông.

Bài thơ được sáng tác khi tác giả trên đường vào Phú Xuân Huế nhận chức và đi qua con đèo này. Nội dung thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên vừa hoang vu vừa tĩnh lặng vừa thoáng đãng nơi miền sơn cưới. Giữa cảnh núi non trùng điệp là hình dáng tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà… cho thấy sự sống còn thưa thớt, con người thật nhỏ bé giữa cảnh đất trời rộng lớn. Cảnh vật được miêu tả một cách chân thực dưới con mắt của một người du hành nhớ nước, thương nhà, cảm thấy khắc khoải cô đơn vì phải xa quê. Bài thơ là bức tranh tả cảnh ngụ tình cho thấy tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu nước sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan.

Bố cục bài thơ gồm 4 phần: Phần 1 là hai câu đề thể hiển cái nhìn chung về cảnh ở Đèo Ngang, phần 2 là hai câu thực miêu tả cuộc sống con người ở Đèo Ngang, phần 3 là hai câu luận là tâm trạng của tác giả, phần 4 là hai câu kết cho thấy nỗi cô đơn của nữ sĩ.

Cấu trúc bài thơ Qua đèo Ngang
Cấu trúc bài thơ Qua đèo Ngang

Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn bát cú đường luật, bố cục chặt chẽ, rõ ràng, nhịp thơ linh hoạt, uyển chuyển. Tác giả đã khéo léo vận dụng nghệ thuật: Tả cảnh ngụ tình, thông qua việc miêu tả cảnh vật nơi đèo Ngang để nói lên nỗi niềm thương nước, nhớ nhà. Ngôn ngữ trong thơ bình dị, nhiều từ láy gợi hình giúp bức tranh trở nên sinh động nhưng vẫn thấm đẫm nỗi buồn nhân thế. Nghệ thuật đảo ngữ, nghệ thuật đối lập được vận dụng một cách tài tình làm cho bài thơ trở nên nhịp nhàng, hòa quyện vừa trang nhã, sâu lắng vừa cổ điển.

2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

Lập dàn ý phân tích Qua đèo Ngang
Lập dàn ý phân tích Qua đèo Ngang

a. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả: Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh vốn là nữ sĩ thơ nôm xuất sắc thời trung đại

– Đôi nét về bài: Qua Đèo Ngang: Là kiệt tác thơ nôm viết theo thể Thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ miêu tả cảnh vật ở Đèo ngang – địa danh mang nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa, qua đó thể hiện tâm trạng hoài cổ nhớ nước, thương nhà của tác giả.

b. Thân bài

– Phân tích hai cầu đề: Cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang

“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa”

+ Thời gian: Bóng xế tà, là thời điểm cuối ngày, lúc con người kết thúc một ngày làm việc mệt nhọc và trở về nhà. Thế nhưng, lúc bóng xế tà thì nhà thơ lại chỉ có một mình nơi Đèo Ngang, xa nhà, xa người thân nên cảm giác cô đơn càng lớn.

+ Cảnh vật nơi đèo ngang: Cỏ cây chen đá lá chen hoa: Đây là hình ảnh mang tính chất ước lệ tượng trưng. Từ “chen” lặp đi lặp lại kết hợp với: Đá, lá, hoa  cho thấy cảnh vật tuy hoang sơ nhưng tràn sức sống.

– Hai câu thực: Miêu tả cuộc sống con người nơi Đèo Ngang

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

+ Vài chú tiểu đang lom khom dưới núi, bên sông lác đác mấy ngôi nhà

+ Tác giả cho người đọc thấy sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Giữa thiên nhiên và con người có một khoảng cách rất xa khiên cho khung cảnh càng trở nên hoang vu, lòng người càng thêm cô quạnh.

– Hai câu luận: Là tâm trạng nhớ nhà của tác giả

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

+ Hình ảnh con quốc quốc, cái gia gia: Đó là hình ảnh tả thực về hai loại chim quen thuộc: Chim đỗ quyên và chim đa đa

+ Tác giả sử dụng thủ pháp nghệ thuật: Lấy động tả tĩnh: Lấy tiếng kêu của con quốc quốc, cái gia gia để bộc lộ nỗi niềm thương nhớ đất nước, quê hương

– Hai câu kết: Thể hiện nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ

+ Dừng chân đứng lại trời non nước: Hình ảnh nhà thơ đứng cô đơn nơi Đèo Ngang, hướng mắt ra xa chỉ thấy cảnh vật, thiên nhiên, đất trời rộng lớn.

+ Một mảnh tình riêng: Sự cô đơn trong lòng nhà thơ không thể chia sẻ cùng ai: Một mình đối diện với chính mình: Cô đơn và lẻ loi.

c. Kết luận

  • Khẳng định lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.

3/ Viết 1 bài văn mẫu phân tích Qua Đèo Ngang

Bài văn mẫu phân tích Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
Bài văn mẫu phân tích Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan vốn là nữ sĩ tài năng hiếm hoi trên tao đàn văn học Việt Nam thời trung đại. Tuy không sáng tác nhiều nhưng thơ của bà đều được xem là viên ngọc quý của thơ nôm, tiêu biểu nhất là bài thơ Qua đèo Ngang. Đó là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc bộc lộ rõ nỗi niềm, tâm trạng của nhà thơ khi trên đường vào Phú Xuân – Huế nhận chức.

Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thiên nhiên vừa tràn đầy sức sống vừa thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

Không gian trong thơ là Đèo Ngang – vốn là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh: Hà Tĩnh và Quảng Bình. Trước đây, muốn vào kinh đô Huế để thi cử hoặc làm việc cho triều đình người ta đều phải đi qua con đèo này. Bà Huyện Thanh Quan lúc này từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập (Dạy dỗ cho các cung nữ trong cung) cũng đi qua đèo Ngang.

Hai câu thực gợi lên trước mắt người đọc một không gian rộng lớn, thời gian là buổi chiều tả – thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ ca thời trung đại. Chiều tà – bóng hoàng hôn luôn gợi lên trong lòng người nỗi buồn mang mác. Chiều tà là thời điểm giao giữa chiều và tối, lúc này mặt trời sắp lặn nên ánh nắng nhạt nhòa. Khung cảnh mênh mông, có non, có nước, có cỏ cây hoa lá nhưng tất cả đều vắng lặng, im ắng.

Từ “chen” trong câu thơ lặp đi lặp lại nhiều lần cho thấy sức sống mãnh liệt của cây cỏ. Dù đất đai khô cằn, thời tiết khắc nghiệt nhưng cây cỏ vẫn chen chúc mọc lên. Từ “chen” cũng cho thấy thiên nhiên nơi đèo Ngang hoang dã, không theo một trật tự nào cả.

Chỉ bằng vài nét mô tả, tác giả đã vẽ lên trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống nơi đèo Ngang. Giữa khung cảnh hoang sơ ấy, hình ảnh con người xuất hiện. Ở đây, nhà thơ sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để mô tả con người và cảnh vật: Lom khom – tiều vài chú, đó là hình ảnh chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi, lác đác bên sông chợ mấy nhà. Tưởng chừng con người xuất hiện thì bức tranh sẽ bớt cô đơn và quạnh quẽ nhưng thực tế không phải vậy.

Con người đặt giữa khung cảnh thiên nhiên rộng lớn khiến cảnh vật càng thêm hoang vắng. Lác đác, vài, mấy đều chỉ số lượng ít ỏi, vài – chứng tỏ cuộc sống con người nơi đây còn buồn tẻ, hiu quạnh. Hình như, con người chỉ tồn tại như một điểm lặng của thiên nhiên. Chỉ với 4 câu thơ, những yếu tố của một bức tranh sơn thủy hữu tình có đủ: Núi, sông, chợ, tiều phu… Tuy nhiên, trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, những yếu tố ấy khi kết hợp lại với nhau qua cảm nhận riêng của nhà thơ lại là cảnh một miền sơn cước heo hút

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Hai câu thơ là nỗi niềm chất chứa trong lòng tác giả. Âm thanh tiếng cuốc kêu chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan khi phải xa nhà đến nơi đất khách quê người. Cái tài của Bà trong câu thơ là ở cách dùng từ điêu luyện: Chữ quốc đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia đồng âm với chữ đa tức là con chim đa đa. Đây không đơn thuần là hình ảnh về hai loài chim quen thuộc: Chim đỗ quyên và chim đa đa mà là cách dùng thủ pháp lấy động để tả tình nhằm bộc lộ cảm xúc nhớ nhung trong lòng tác giả. Người đọc cảm nhận rõ tiếng kêu khắc khoải của con chim giống như tiếng lòng của nữ sĩ lúc này vậy.

“Dừng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta”

Câu thơ cho thấy hình ảnh nhà thơ một mình đơn độc đứng tại đèo Ngang. Con đèo cao, khung cảnh hoang vu, tác giả đang hướng ánh mắt nhìn về nơi xa chỉ thấy trời, núi non, dòng sông cô liêu, xa vợi. Trong không gian rộng lớn, quạnh quẽ đó, nhà thơ chỉ có “một mảnh tình riêng ta với ta” . Thiên nhiên càng rộng lớn thì con người càng trở nên bé nhỏ và cô đơn. Những tưởng có sông, có núi, có người mọi thứ sẽ trở nên gắn kết, hòa nhập.

Thế nhưng, ở đây tác giả sử dụng cách ngắt nhịp: Trời, non, nước, ta với ta… khiến cho mọi thứ trở nên rời rạc, tách biệt. Câu thơ cuối chính là lời khẳng định: Một mảnh tình riêng ta với ta. Đại từ “ta” được sử dụng với ý nghĩa khác thông lệ. Ta vốn là một đại từ mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng nhưng trong bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan nó dùng để chỉ cá nhân, một mình tác giả. Câu kết của bài thơ trở nên giãn cách, tạo ra một thế giới riêng biệt, cô đơn tuyệt đối.

Chúng ta từng bắt gặp trong thơ Nguyễn Khuyến cụm từ ta với ta “Đầu trò tiếp khách trầu không có/Bác đến chơi đây ta với ta”. Ở đây, chữ ta đầu tiên là nói đến nhà thơ – chủ nhà, chữ ta thứ hai chỉ khách, người bạn đến chơi nhà. Từ với xuất hiện trong câu thơ làm nhiệm vụ kết nối ta – ta để mọi người trở nên gắn bó, thân thiết, không còn khoảng cách.

Ngược lại, ta với ta trong thơ Bà Huyện Thanh Quan lại chỉ có chính bản thân mình. Điều đó cho thấy tâm trạng nữ sĩ lúc này đang cô đơn, lẻ lõ. Đáng nói, sự cô đơn ấy, nỗi niềm ấy lại chẳng thể chia sẻ cùng ai.

Có thể nói, thành công của bài thơ Qua đèo Ngang là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên với tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chỉ với tám câu thơ ngắn gọn nhà thơ đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên với đủ góc cạnh: Tĩnh lặng, hùng vĩ, bao la đồng thời cho thấy rõ tâm trạng cô đơn, lạc lõng của con người trước thế giới rộng lớn.

Bút pháp tả cảnh ngụ tình, dùng cảnh vật để phản chiếu tâm hồn được khai thác triệt để trong bài thơ. Với ngôn ngữ thơ trang nhã, điêu luyện, bằng cách kết hợp đồng thời từ Hán Việt với điển cố tạo nên âm hưởng vừa đài các vừa thanh tao lại rất gần gũi. Nghệ thuật đảo ngữ, đối câu, chơi chữ, từ láy, điệp từ cũng được tác giả sử dụng giúp nâng cao hiệu quả cảm xúc trong bài thơ.

Bài thơ Qua Đèo Ngang dù ra đời đã lâu, cách đây hơn một thế kỷ nhưng vẫn còn giữ nguyên giá trị. Nhiều người vẫn thuộc bài thơ này và luôn dành một tình cảm đặc biệt cho nữ sĩ. Với giọng điệu da diết, trầm bổng cùng nghệ thuật độc đáo, tác giả đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên vừa đẹp vừa buồn, mang đậm nỗi niềm của Bà Huyện Thanh Quan.

Lên đầu trang