Trong cuộc đời sáng tác, Xuân Quỳnh đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam. Thơ ca của bà luôn mang bản sắc riêng, chan chứa tình yêu thương, chạm sâu đến trái tim người đọc. Trong đó, Sóng là tác phẩm tiêu biểu, là bài thơ được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn ở bậc phổ thông. Dưới đây là phân Sóng chọn lọc giúp các bạc học sinh ăn điểm tuyệt đối trong các kỳ thi.
Đôi nét về tác giả/Tác phẩm/Hoàn cảnh ra đời

Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh sinh năm 1942, mất năm 1988, quê Hà Tây nay thuộc Hà Nội. Bà vốn xuất thân trong một gia đình công chức nhưng mồ côi mẹ từ nhỏ, phải sống với Bà nội. Trước khi đi theo nghiệp văn chương, Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa của đoàn văn công nhân dân Trung Ương. Sau đó, bà trở thành biên tập viên của nhà xuất bản Tác phẩm mới đồng thời là Uỷ viên ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam – khóa 3.
Trong cuộc đời sáng tác, Xuân Quỳnh được đánh giá là nhà thơ tài năng, trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, gian khổ. Với những đóng góp to lớn của mình, năm 2007, bà vinh dự được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Những tác phẩm tiêu biểu gắn liền với tên tuổi của nữ sĩ Xuân Quỳnh có thể kể đến như: Tơ tằm, Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng, Tự hát, Lời ru trên mặt đất, Hoa cỏ may, Bầu trời trong quả trứng… Thơ Xuân Quỳnh chính là tiếng lòng của người phụ nữ vừa hồn nhiên, tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm lại chứa nhiều trắc ẩn.
Bài thơ Sóng được tác giả viết năm 1967 từ chuyến đi thực tế ở Diêm Điền – một vùng biển đẹp của quê lúa Thái Bình. Đây là những vần thơ hay viết về chủ đề tình yêu, một sáng tác tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh.
Sóng được viết theo thể thơ năm chữ, in trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào”. Hình ảnh con sóng trong bài thơ là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho tâm trạng của người con gái lúc yêu. Nhân vật trữ tình trong thơ đã phân thân thành: Sóng và em – Em và sóng.
Đó là hình ảnh đẹp tuy hai mà một, có lúc tách đôi, có lúc hoà nhập làm một để soi rõ lòng nhau, để cộng hưởng thành một bản tình ca ngọt ngào. Với bố cục 4 phần, bài thơ là cảm nhận tinh tế của nữ sĩ về những cung bậc, những sắc thái khác nhau trong tâm hồn của người phụ nữ: Nhớ nhung, trăn trở, thuỷ chung, chân thành, khao khát hạnh phúc. Sóng được viết bằng thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp linh hoạt, ngôn ngữ gần gũi, dung dị nhưng không kém phần tinh tế giúp nhà thơ biểu đạt rõ cảm xúc của con người khi yêu.
2. Lập dàn ý bài văn phân tích

2.1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả: Xuân Quỳnh là nhà thơ tài năng tiêu biểu cho thế hệ văn nghệ sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Bà là thi sĩ của những vần thơ dạt dào cảm xúc, giàu tình thương, giàu lòng trắc ẩn…
– Giới thiệu về bài thơ Sóng: Được tác giả sáng tác vào năm 1967, trong một chuyến đi thực tế tại vùng biển Diêm Điền – Thái Bình. Tác phẩm rút ra từ tập thơ “Hoa dọc chiến hào”. Đây là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh viết về tình yêu, mang đậm dấu ấn của một hồn thơ giàu chất nữ tính.
1.2. Thân bài
a. Ý nghĩa tiêu đề bài thơ
Sóng: Chính là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho tâm trạng của người con gái lúc đang yêu. Nhân vật trữ tình đã hóa thân, phân thành thành sóng: Sóng và em, em và sóng. Hai hình ảnh tuy hai mà một, lúc tách đôi để soi rõ tâm hồn nhau, lúc lại hòa nhập để cùng tạo nên một sự cộng hưởng ngọt ngào.
b. Các ý chính:
– Phân tích quy luật của sóng và em
+ Khổ thơ 1:
- Tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản về ngôn từ: Dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ nhằm miêu tả trạng thái đối lập của sóng. Nó gợi chúng ta liên tưởng đến tâm trạng và tính cách của người phụ nữ khi đang yêu: Lúc dịu dàng, lúc mãnh liệt, lúc nồng nàn, da diết…
- “Sông không hiểu”: Xuân Quỳnh sử dụng nghệ thuật nhân hoá để làm bật nổi bản tính của sóng. Vì không hiểu nên sóng muốn tìm ra biển lớn để khám phá chính mình. Câu thơ ẩn chứa thông điệp sâu sắc về tình yêu đôi lứa: Khát khao có một tình yêu đích thực
+ Khổ thứ 2:
- “Ôi con sóng bạc đầu…. và ngày sau vẫn thế”: Tác giả muốn khẳng định một điều: Dù trong quá khứ hay hiện tại thì sóng muôn đời vẫn sôi nổi, dạt dào…. giống như người phụ nữ vậy, họ luôn muốn yêu và được yêu.
- + “Nỗi khát vọng tình yêu, bồi hồi trong ngực trẻ”: Tác giả sử dụng hình ảnh con sóng đại dương để nói lên một thực tế: Khát vọng tình yêu là đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.
– Trăn trở, suy nghĩ về cội nguồn tình yêu
+ Khổ 3: Tác giả sử dụng điệp nghĩ “em nghĩ về” cùng câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên” nhằm khẳng định mong muốn được khám phá bản thân, hiểu rõ về người mình yêu và quy luật trong tình yêu.
+ Khổ 4: Dựa trên quy luật tự nhiên của những con sóng: Sóng không hiểu nỗi mình nên tìm ra tận bể, giống như con người vậy, muốn tình yêu bền chặt phải hiểu rõ ngọn nguồn. Câu thơ nói lên sự trăn trở của nhà thơ trước những bí ẩn của tình yêu ở thời điểm mới chớm nở.
– Phân tích nỗi nhớ, lòng chung thuỷ của người con gái trong tình yêu
+ Khổ 5:
- “Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước”: Tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản nhằm gợi ra những phạm vi khác nhau về không gian của con sóng: “Dưới lòng sâu” hay “Trên mặt nước” và phạm vi thời gian “Ngày và đêm” để thể hiện nỗi nhớ nhung dạt dào, triền miên của sóng – bờ. Nó chẳng khác nào nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.
- Chỉ bằng mấy câu thơ ngắn gọn: Xuân Quỳnh đã diễn tả rõ và chân thực nỗi nhớ của người phụ nữ: “Lòng em nhớ đến anh…. Cả trong mơ còn thức”. Cái hay của câu thơ nằm ở câu từ như lột tả được trọn vẹn nỗi nhớ của những người yêu nhau. Nỗi nhớ ấy ăn sâu vào tiềm thức, luôn thường trực trong suy nghĩ mỗi người.
+ Khổ 6:
- “Xuôi – ngược”, nghệ thuật tương phản tiếp tục được sử dụng, điệp ngữ: dẫu – vẫn – về gợi lên trong lòng người đọc hành trình của con sóng ngoài biển lớn, giống như hành trình tình yêu của người phụ nữ vậy.
- “Nơi nào em cũng nghĩ… Hướng về anh một phương”: Câu thơ cũng chính là lời thề thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ trọn một tình yêu, luôn nghĩ về người ấy bằng cả trái tim mình.
– Khát vọng một tình yêu vĩnh cửu

+ Khổ 7: Tác giả khẳng định quy luật muôn đời của thiên nhiên, của những con nước “Con nào chẳng tới bờ” cũng giống như em “Dù muôn vàn cách trở” vẫn hướng về người mình yêu.
+ Khổ 8: “Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua…”: Thể hiện rõ cảm giác bé nhỏ, cô đơn, lo lắng trước sự vô tận của thời gian còn tình yêu thì hữu hạn. “Như biển kia dẫu rộng… bay về xa”: Tác giả cảm giác phấp phỏm vì lòng người dễ thay đổi bởi “muôn vàn cách trở? Khía cạnh khác, câu thơ cho thấy sự lo lắng của người người phụ nữ khi đặt niềm tin vào tình yêu, liệu có như mây kia sẽ vượt qua được biển rộng?
+ Khổ 9:
- “Làm sao được tan ra….”: Là băn khoăn, là khắc khoải, là ước mong được hoá thân thành trăm ngàn con sóng nhỏ muôn đời vỗ mãi vào bờ.
- Câu thơ chính là tiếng lòng, là khát khao mãnh liệt của người phụ nữ được sống trong biển lớn tình yêu, được hòa nhập giữa tình yêu riêng tư với tình yêu quê hương đất nước rộng lớn.
c. Kết luận:
– Nêu cảm nhân của bản thân về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
– Tổng kết nội dung: Thông qua hình tượng sóng, nhà thơ đã thể hiện được tình yêu nồng nàn, tha thiết của người phụ nữ. Xuân Quỳnh có cái nhìn mới mẻ, hiện đại về tình yêu đôi lứa, đó là sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống.
– Khái quát giá trị nghệ thuật: Bài thơ đã khắc hoạ thành công hình tượng “Sóng” bằng hình ảnh trong sáng, giản dị, thân thuộc, ngôn từ tinh tế, giàu giá trị biểu đạt.
3. Bài văn mẫu

Có rất nhiều thi sĩ đã dành những vần thơ đẹp nhất để viết về tình yêu. Ta từng biết đến tình yêu vội vàng, hối hả trong thơ Xuân Diệu “Đã hôn rồi hôn lại/Cho đến mãi muôn đời/Đến tan cả đất trời/Anh mới thôi dào dạt” thì Sóng của Xuân Quỳnh lại mang đến một màu sắc khác biệt trong tình yêu. Đó là thứ tình cảm dịu dàng, khắc khoải, đậm sâu của người phụ nữ khi yêu. Bài thơ trích từ tập “Hoa dọc chiến hào” được tác giả viết năm 25 tuổi trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – quê lúa Thái Bình. Sóng là những suy nghĩ, những cảm nhận rất chín của tác giả về tình yêu, giữa cái riêng và cái chung. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không cảm tính một chiều, nó là khát vọng rất thực của con người giống như nhu cầu tự nhận thức và khám phá.
Mở đầu bài thơ là những câu thơ vừa mạnh mẽ vừa nhẹ nhàng: “Dữ dội và dịu êm/Ồn ào và lặng lẽ”. Câu thơ chia thành hai cặp ngôn ngữ đối lập: Dữ dội – ồn ào, dịu êm – lặng lẽ. Đó là 4 tính từ đủ khả năng diễn tả những cung bậc khác nhau của sóng, cũng chính là cảm xúc rất thật của người phụ nữ trong tình yêu.
Tác giả sử dụng cách ngắt nhịp ⅔ với sự thay đổi luân phiên giữa vần bằng và vần trắc giúp thể hiện rõ nhất những đối nghịch, những trạng thái khác nhau của con sóng. Trạng thái của “em” trong tình yêu cũng thế. Liên từ “và” nối trong câu thơ muốn khẳng định một điều chắc chắn rằng, dù cảm xúc đối nghịch nhau nhưng chúng luôn tồn tại song song, đan xen, không hề mâu thuẫn. Chúng có sự vận động và chuyển hoá giống như người con gái khi yêu: Cảm xúc giận hờn, yêu ghét, nhớ thương lẫn lộn, phức tạp.
Tình yêu có muôn vàn cung bậc khác nhau, thật khó để lý giải tường tận chữ “yêu”. Thế nhưng, người con gái trong thơ Xuân Quỳnh lại không chịu sự mập mờ, cô quyết định tìm ra biển lớn để hiểu rõ ngọn nguồn của tình yêu “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”
Có thể thấy, trong thơ Xuân Quỳnh, người phụ nữ không chỉ dịu dàng, đằm thắm, tha thiết mà còn hết sức táo bạo. Nếu trong xã hội phong kiến, các cô gái thường thẹn thùng, bẽn lẽn, không dám lựa chọn, không dám đưa ra quyết định hạnh phúc của đời mình. Ngược lại, người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh lại quyết liệt, mạnh bạo, chủ động tìm kiếm hạnh phúc riêng.
Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu từng viết “Làm sao sống được mà không yêu/Không nhớ không thương một kẻ nào”. Yêu và được yêu là mong muốn tất yếu của con người. Bài thơ Sóng đã thể hiện rõ điều tất yếu ấy theo một cách rất riêng “Nỗi khát khát vọng tình yêu/Bồi hồi trong ngực trẻ”. Tình yêu khiến người ta thổn thức và rực cháy. Cụm từ “Ngày xưa – ngày sau” được tác giả sử dụng tinh tế trong câu thơ nhằm khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của tình yêu.
“Trước muôn trùng sóng bể…./Khi nào ta yêu nhau”. Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng và bản chất của những con sóng để lý giải sự bí ẩn trong tình yêu: Em và sóng – em bé nhỏ, mỏng manh, hữu hạn trước thiên nhiên rộng lớn- sóng dữ dội, rộng lớn và vô biên. Từ sự so sánh mang tính đối lập đó, tác giả đã góp phần làm nổi bật suy tư, lo lắng của cô gái khi yêu “Từ nơi nào sóng lên”. Cụm từ “Em nghĩ” lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh mong muốn được khám phá, được cắt nghĩa mọi khía cạnh của tình yêu, để từ đó có thể đưa ra câu trả lời: “Sóng bắt đầu từ gió”.
Câu hỏi muôn đời trong tình yêu “Khi nào ta yêu nhau” và câu trả lời “Em cũng không biết nữa” đã phản ánh rất thực bản chất của tình yêu. Phải nói rằng, nhà thơ đã có cái nhìn rất sâu sắc về tình yêu. Bản chất tình yêu vốn chẳng thể nào cân đong, đo đếm, cũng không thể chính xác từng giây, từng phút.
Tình yêu như cơn mưa mùa hạ, bất chợt đến mang theo cảm xúc ngỡ ngàng, vui sướng, hạnh phúc. Nguồn gốc của sự sống có thể cắt nghĩa một cách dễ dàng còn tình yêu rất khó để lý giải. Chuyện tình yêu luôn chứa đựng những điều bí ẩn, lạ lùng, những bất ngờ khó lý giải. Chính điều đó khiến tình yêu luôn có sức hấp dẫn đặc biệt với tất cả chúng ta “Làm sao sống được mà không yêu…”
“Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước…/Dù muôn vời cách trở…” Nhịp sóng lúc êm đềm, dịu nhẹ lúc cuồn cuộn dâng trào như những cung bậc của tình yêu đôi lứa. Cảm xúc chủ đạo của khổ thơ này là nỗi nhớ gắn với không gian “Dưới lòng sâu, trên mặt nước” với thời gian “ngày – đêm”.
Tình cảm ấy luôn thường trực, vượt qua mọi giới hạn về thời gian, không gian, chiếm lấy tâm hồn người con gái “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức…”. Đây không phải là nỗi nhớ thông thường mà là nhớ cả trong mơ. Chỉ một từ nhớ nhưng diễn tả đầy đủ thứ tình cảm sâu đậm em dành cho anh.
Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ có da diết, khắc khoải mà còn là sự thuỷ chung, son sắt. “Dẫu xuôi về phương Bắc/Dẫu ngược về phương Nam…/Nơi nào em cũng nghĩ/Hướng về anh một phương”. Cuộc sống có thể đổi thay, dù trải qua bao nhiêu khó khăn cách trở thì em vẫn một lòng hướng về anh. Câu thơ đã nói hộ nỗi lòng của tác giả trong tình yêu.
“Ở ngoài kia đại dương/Trăm ngàn con sóng nhỏ/Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”. Hình ảnh ẩn dụ: Sóng và bờ được tác giả sử dụng một cách mới mẻ, khác biệt với ca dao, tục ngữ. Trong ca dao: Sóng/thuyền/đò tượng trưng cho người con trai còn bờ/bến tượng trưng cho người con gái. Với Xuân Quỳnh lại khác, sóng gắn liền với người con gái, còn bờ là kết quả của tình yêu với niềm vui sum vầy, hạnh phúc. Khổ thơ cho ta thấy một góc nhìn rất khác trong tình yêu: Đó là sự chủ động của người con gái khi yêu.
“Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua/Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa/làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ/Giữa biển lớn tình yêu/Để ngàn năm còn vỗ”. Trong tình yêu, người ta sẵn sàng dâng hiến, từ bỏ cái tôi nhỏ bé để hướng đến những điều lớn lao, đẹp đẽ. Nhận thức trong tình yêu của tác giả “tan ra” có nghĩa là không mất đi mà hoà giữa cái riêng và cái chung. Như thế, chúng ta sẽ không có cảm giác cô đơn, lạc lõng khi yêu.
Với kết cấu song hành giữa sóng và em, khi đan đài, hoà quyện, khi tách rời độc lập, tác giả đã thể hiện rõ mong muốn rất chân thành của con người trong tình yêu: Được khám phá, được soi chiếu lẫn nhau, được hiểu rõ nguồn cội…
Có thể nói, Sóng của Xuân Quỳnh là một bài thơ hay, tiêu biểu viết về tình yêu. Dù trước đó, trên tao đàn văn học Việt Nam có không ít sáng tác hay viết về chủ đề này nhưng tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh luôn mang màu sắc riêng vừa truyền thống vừa hiện đại. Thành công của tác giả là ở chỗ: Chỉ mượn hình ảnh con sóng nhưng có thể diễn tả đầy đủ trọn vẹn mọi cung bậc, cảm xúc trong tình yêu. Thể thơ 5 chữ linh hoạt về nhịp điệu, ngôn từ trong sáng, giàu tính tượng hình đã góp phần làm nên thành công của tác phẩm. Dẫu thời gian qua đi, nhiều thứ có thể đổi thay, quan điểm về tình yêu của Xuân Quỳnh vẫn luôn mới mẻ, nhân văn.





