Phân tích Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão chọn lọc hay nhất

Tỏ lòng là bài thơ hay nhưng khó ăn điểm cao? Làm sao để phân tích Tỏ lòng hay là lo lắng của nhiều sĩ tử? Dưới đây là hướng dẫn chi tiết dành cho các em.

1/ Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

Đôi nét về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng
Đôi nét về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng

Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, mất năm 1320, người ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông vốn là con rể của tướng Trần Hưng Đạo, từng giữ chức đội quân hữu vệ.

Trong 2 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân nhà Trần, Phạm Ngũ Lão đã có nhiều đóng góp to lớn. Vì thế, ông được phong làm chức Điện Súy, phong tước là Quan nội hầu. Bản thân ông là một tướng võ thường xuyên luyện tập ở thao trường nhưng lại rất thích đọc sách, ngâm thơ. Bởi vậy, Phạm Ngũ Lão được người đời ca ngợi là con người văn võ song toàn.

Theo ghi chép của cuốn sách: Tông phả kỷ yếu tân biên của tác giả Phạm Côn Sơn thì Phạm Ngũ Lão là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh. Từ thuở nhỏ, cậu bé này đã tỏ ra là người thông minh, tích cách khẳng khái. Khi ở làng mình có người đỗ Tiến sĩ tổ chức ăn mừng, cả làng cùng kéo đến xem riêng ông thì không. Khi người mẹ hỏi chuyện, ông nói: Chí làm trai ở đời phải lập công danh rạng rỡ, mình chưa bằng người ta mà đi ăn mừng thì nhục lắm.

Sau đó, ông ra sức học hành, đến khi về kinh đô được Hưng Đạo Đại Vương tiến cử với triều đình. Ông giữ chức cai quản quân Cấm vệ nhưng quân lính không phục vì cho rằng ông xuất thân nông dân không có tài cán gì. Họ muốn tỉ thí với ông và Phạm Ngũ Lão đã đồng ý nhưng trước khi thi đấu ông muốn xin về quê 3 tháng.

Trong thời gian này, ngày nào Phạm Ngũ Lão cũng ra cái gò lớn ở ngoài đồng để tập luyện. Đến thời hạn, ông lên kinh thành cùng so tài. Ông tiến thoái như bay, tay chân đấm đá nhanh như cắt khiến quân sĩ bái phục. Khi Phạm Ngũ Lão qua đời, vua Trần là Trần Minh Tông đã quyết định cho nghỉ chầu triều 5 ngày để tỏ lòng thương tiếc.

Là quan võ nhưng Phạm Ngũ Lão rất thích đọc sách, làm văn. Ông có hai bài thơ nổi tiếng: Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Trần Hưng Đạo (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Trong đó, bài thơ Thuật hoài ra đời sau chiến thắng vẻ vang của vua tôi nhà Trần chống quân Nguyên Mông xâm lược. Bài thơ là hào khí, là niềm vui, niềm tự hào của quân dân Đại Việt khi đánh thắng kẻ thù hùng mạnh. Qua đó, tác giả thể hiện ý thức làm người, chí hướng lập công danh của đấng nam nhi.

Bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) có bố cục gồm 2 phần: Phần 1 gồm 2 câu đầu là hào khí đông A được thể hiện qua hình ảnh đấng nam nhi và quân đội nhà Trần. Phần 2 là 2 câu còn lại thể hiện nỗi lòng của tác giả. Với ngôn ngữ hàm súc, lời thơ giàu hình ảnh, bút pháp nghệ thuật so sánh, phóng đại cùng âm hưởng hào hùng, mạnh mẽ, có khi trầm lắng, suy tư đã thể hiện rõ hào khí của con người thời đại Nhà Trần.

2/ Lập dàn ý cho bài phân tích Tỏ lòng

Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tỏ lòng
Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tỏ lòng

2.1 Mở bài

– Giới thiệu đôi nét về tác giả Phạm Ngũ Lão: Là người văn võ song toàn, có nhiều đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược dưới thời nhà trần…

– Giới thiệu về bài thơ Tỏ lòng: Ra đời sau chiến thắng vẻ vang của quân dân nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông xâm lược. Bài thơ thể hiện được niềm vui, niềm tự của quân dân Đại Việt, qua đó khẳng định ý thức làm người, chí lập công danh của đấng nam nhi.

2.2 Thân bài

a. Hào khí Đông A qua hình tượng nam nhi và sức mạnh của quân đội nhà Trần

– Hình tượng nam nhi trong câu 1: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”:

+ Bản nguyên bản “hoành sóc” là cắp ngang ngọn giáo ý muốn nói sự vững chãi, kiên cường, tư thế uy dũng và sẵn sàng chiến đấu của người lính dưới thời nhà Trần.

+ Còn trong bản dịch thơ thành “múa giáo” ý muốn phô trương phong cách biểu diễn không thể hiện được sức mạnh nội lực của người lính. Vì thế, nhiều chuyên gia đánh giá từ ngữ ở bản dịch không truyền tải hết được ý nghĩa của sáng tác nguyên bản.

+ Không gian bài thơ là “Giang sơn” hàm chỉ sông núi, non sông, đất nước – tổ quốc. Trong không gian to lớn ấy, đấng nam nhi thoải mái tỏ lòng.

+ Thời gian: Kháp kỉ thu: Được hiểu là mấy thu – mấy năm ⇒ Chỉ thời gian dài, cho thấy thời gian chiến đấu bền bỉ của quân dân nhà Trần trước quân giặc.

⇒ Chính không gian, thời gian rộng lớn nói trên đã giúp nâng cao tầm vóc của đấng nam nhi, người anh hùng vệ quốc. Dù trời đất bao lo nhưng con người không hề nhỏ bé, bất chấp thời gian họ vẫn luôn chiến đấu bền bỉ.

– Sức mạnh của quân dân nhà Trần trong câu 2: Tam quân tì hổ khí thôn ngưu:

+ Tam quân là ba quân gồm: Tiền quân, trung quân, hậu quân: chỉ lực lượng quân đội nhà Trần hùng hậu

+ Tì hổ, thôn ngưu là chỉ sức mạnh to lớn của quân dân nhà Trần. Sức mạnh ấy ngang với hổ báo vốn là chúa sơn lâm sống ở chốn rừng sâu. Đó là cách so sánh ẩn ý muốn nói đến sức mạnh, khí thế hừng hực – hào khí Đông A của quân đội nhà Trần.

+ Khí thôn ngưu: Người trẻ tuổi nhưng khí phách anh hùng

⇒ Tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phóng đại nhằm ngợi ca sức mạnh, khí thế của quân dân nhà trần. Nhờ khí thế đó mà quân Mông Nguyên cả ba lần xâm lược đều đại bại.

* Tiểu kết hai câu đầu:

  • Nội dung: 2 câu thơ đầu của bài thơ thể hiện rõ hào khí Đông A của quân dân nhà Trần qua hình ảnh đấng nam nhi hiên ngang, dũng mạnh, sánh ngang với vũ trụ, khí thế ngút trời. Ấn đằng sau những câu chữ ấy là niềm tự hào, là tinh thần yêu nước của tác giả.
  • Nghệ thuật: Phạm Ngũ Lão sử dụng bút pháp gợi tinh tế chứ không tả, không kể chi tiết. Hình ảnh ước lệ tượng trưng: Kháp kỉ thu, tì hổ, khí thôn ngưu kết hợp với biện pháp so sánh, ước lệ.

b. Nỗi lòng của tác giả

Nỗi lòng của tác giả về nợ công danh
Nỗi lòng của tác giả về nợ công danh

– Nợ công danh: Trong quan điểm của Nho giáo, đấng nam nhi sống ở đời phải có danh với núi sông, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nợ công danh là món nợ lớn mà người đàn ông phải mang và phải trả.

– Công danh ấy gồm 2 phương diện: Lập công là chiến công hoặc lập danh  là để lại tiếng thơm cho đời. Đấng nam nhi nếu làm xong hai nhiệm vụ trên là hoàn thành trả món nợ, có thể ngẩng cao đầu với đời.

– Cùng tâm trạng với Phạm Ngũ Lão là Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… đều là những người luôn trăn trở về nợ công danh.

– Trong quan điểm của Phạm Ngũ Lão: Nam nhi mà không lập được công danh sự nghiệp sẽ thấy hổ thẹn với những người đi trước “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”:

+ Thẹn: Có nghĩa là tự cảm thấy xấu hổ vì bản thân mình chưa bằng người khác:

+ Vũ Hầu tức là Khổng Minh – vốn là người tài giỏi, là tấm gương về sự tận tâm, tận lực báo đáp ân tình của chủ tướng. Ông hết lòng trả nợ công danh cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.

+ Bản thân Phạm Ngũ Lão: Không màng nguy hiểm, hết lòng hết dạ phục vụ nhà Trần nên được phong chức Điện Súy, tước Nội Hầu. Tuy thế, ông vẫn tự cảm thấy hổ thẹn với người xưa.

⇒ Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão là hết sức cao cả, thể hiện khát khao, hoài bão muốn cống hiến cho đất nước. Nỗi thẹn của tác giả đã đánh thức ý chí làm trai của trang nam tử thời đại nhà Trần.

+ Liên hệ: Mỗi người sống trên đời phải có ước mơ và hoài bão, phải biết vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện được ước mơ đó, sống có trách nhiệm với cộng đồng với xã hội.

* Tiểu kết 2 câu thơ cuối:

  • 2 câu thơ cuối thể hiện nỗi thẹn của tác giả đối với người xưa. Qua đó, thể hiện tinh thần yêu nước, thôi thúc ý chí lập công của đấng nam nhi
  • Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp gợi + biểu cảm, sử dụng điển cố “thuyết Vũ Hầu”

2.3 Kết luận

– Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của bài thơ Thuật hoài

– Liên hệ với những sáng tác thơ văn yêu nước cùng chủ đề trong thời kỳ này như: Cảm hoài của Đặng Dung, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải…

3/ viết 1 bài văn mẫu phân tích Tỏ lòng

Bài văn mẫu phân tích Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Bài văn mẫu phân tích Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Phạm Ngũ Lão là danh tướng đời Trần, văn võ song toàn, có nhiều đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên xâm lược thế kỷ XIII. Ông chính là cánh tay đắc lực của Trần Hưng Đạo, cùng quân dân nhà Trần bảo vệ trọn vẹn non sông đất nước. Phạm Ngũ Lão được người đời biết đến không chỉ là một vị tướng tài giỏi mà con là một nhà thơ. Nhắc đến ông người ta nhớ đến Tỏ lòng (Thuật hoài). Đó là bài thơ thể hiện rõ tấm lòng yêu nước của tác giả, thấm đẫm chủ nghĩa anh hùng và hào khí Đông A của thời đại nhà Trần.

Tỏ lòng được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn tác giả đã thể hiện đầy đủ, trọn vẹn khí thế, quan điểm về nợ công danh và tinh thần yêu nước. Tài năng câu chữ của Phạm Ngũ Lão là chỉ bằng bốn câu thơ nhưng đã truyền tải đến người đọc đầy đủ thông điệp: Nam nhi sống ở đời đầu đội trời, chân đạp đất để không thẹn với người xưa. Qua đó, tác giả bộc lộ rõ lòng yêu nước, ý chí phấn đấu để trả nợ công danh.

Hai câu thơ đầu: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu. Tam quân tì hổ khí thôn ngưu..” tác giả tập trung thể hiện khí phách anh hùng trong chiến đấu, tinh thần đoàn kết của quân dân nhà Trần.

Binh lính thời Trần hiên ngang với ngọn giáo trong tay, họ sẵn sàng đi đến bất cứ nơi đâu có giắc, tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ người nghèo, bảo vệ non sông đất nước. Bản dịch chữ là “hoành sóc”, bản dịch thơ là “múa giáo” thực sự chưa lột tả hết chí khí hiên ngang của đấng nam nhi trong thơ Phạm Ngũ Lão. Múa giáo thiên về trình diễn, có phần yếu ớt, còn “Hoành sóc” mạnh mẽ, anh dũng, lẫm liệt với ngọn giáo trên tay hừng hực khí thế ra trận để tiêu diệt kẻ thù. Nhờ khí thế đó mà vó ngựa Mông Nguyên dù giày xéo khắp Âu Á nhưng cả ba lần đều đại bại ở Đại Việt. Quân giặc thiện chiến, mạnh về vũ khí nhưng quân dân nhà Trần mạnh về ý chí, tinh thần đoàn kết. Chính hào khí Đông Á bất diệt đã làm nên chiến thắng lẫy lừng, khiến quân giặc hoang mang bỏ chạy về nước.

Ngọn giáo trong thơ Phạm Ngũ Lão đã trải qua biết bao mùa thu để bảo vệ đất nước. Hình ảnh ấy trở nên thật đẹp trong cái không gian rộng lớn của đất trời và chiều dài của lịch sử dân tộc. Hình ảnh ngọn giáo trong câu thơ ẩn chứa cả hình ảnh của tác giả và những cuộc chiến cam go với quân giặc hùng mạnh. Với khí thế át sao ngưu, sao đẩu trên trời, với khẩu hiệu “sát thát” được thích trên tay, quân đội nhà Trần giống như hổ báo có thể nuốt trọn con trâu mộng. Đó là vẻ đẹp, là sức mạnh của tinh thần đoàn kết, một trong những nguyên nhân cơ bản nhất để nhà Trần 3 lần đại thắng Nguyên Mông.

Có thể nói, hai câu thơ đầu đã khắc hoạ thành công vẻ đẹp lẫm liệt, gân guộc, tràn đầy sức sống và khí thế mạnh liệt của nam nhi thời Trần – những chiến binh quả cảm sẵn sàng xả thân vì nước vì dân. Câu thơ làm bật nổi hào khí Đông A ngút trời của một thời không thể nào quên.

2 câu thơ cuối: “Nam nhi vị liễu công danh trái. Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” thể hiện quan niệm của tác giả về chí làm trai trong thời buổi ấy. Theo ông, đã là nam tử hán sống trên đời phải có công danh với núi sông. Nói cách khác, đây là tuyên ngôn sống về chí làm Trai của Phạm Ngũ Lão đồng thời cũng là tuyên ngôn của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, trong cái nhìn của Phạm Ngũ Lão, dù ông được xem là cánh tay đắc lực của Trần Hưng Đạo, từng vào sinh ra tử trong nhiều trận đánh nhưng vẫn chưa được coi là có công danh với đất nước.

Vậy nên, bản thân ông vẫn tự thấy mình chưa hoàn thành trả nợ công danh với non nước. Đó là lý do khi nghe đến chuyện Vũ Hầu thì Phạm Ngũ Lão lại thấy hổ thẹn. So sánh với Vũ Hầu tác giả muốn nói rằng mình chưa thể bằng người xưa nên cần phải phấn đấu hơn nữa. Ông không ngộ nhân thân phận của mình mà so sánh để thấy bản thân chưa sánh bằng các bậc tiền bối đi trước. Lấy gương sáng trong cổ kim để soi bóng mình mà phấn đấu cho bằng người đó là lòng tự tôn đáng quý và cần có ở đấng nam nhi. “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, câu thơ cho thấy Phạm Ngũ Lão là người khiêm tốn, có chí khí phấn đấu vươn lên chứ không vịn vào xuất thân hay hoàn cảnh.

Nhân cách, chí khí của Phạm Ngũ Lão thực sự khiến người ta nể phục. Ông không chỉ là vị tướng mang vẻ đẹp hiên ngang, sẵn sàng xả thân vì đất nước mà còn là nhà thơ tài năng. Ông không phải là người tham công danh mà là cảm thấy hổ thẹn vì bản thân chưa có nhiều cống hiến cho giang sơn nên trong lòng cứ mãi “vương nợ”

Hai câu thơ cuối mang âm hưởng hoàn toàn khác so với hai câu thơ đầu. Nếu hai câu đầu là khí thế hiên ngang sẵn sàng xung trận của quân dân nhà Trần thì hai câu cuối lại ẩn chứa cảm xúc trữ tình, sâu lắng. Tác giả như đang tự nói về chính mình về nợ công danh nên âm điệu trở nên thâm trầm, da diết. Theo ông, khi đất nước chưa sạch bóng quân thù thì nợ công danh của nam nhi chưa trả xong. Rõ ràng, quan điểm sống của tác giả rất tích cực và tiến bộ. Ông xứng đáng là đấng anh hùng của mọi thời đại.

Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão được viết bằng chữ Hán, theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật với niêm luật chặt chẽ, ý nghĩa hàm súc, hình ảnh đẹp đẽ, âm điệu hào hùng, trầm tư, sâu lắng đã khắc hoạ thành công vẻ đẹp của quân dân nhà Trần trong một kỳ đặc biệt. Đó cũng chính là tiếng lòng của tác giả, là quan niệm sống của ông. Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về quan điểm nhân sinh, lối sống tích cực đối với thế hệ trẻ trong thời đại mới “Phải có danh gì với núi sông”

Lên đầu trang