Lập dàn ý chi tiết/Văn mẫu phân tích viếng lăng Bác hay nhất

Trên tao đàn văn học Việt Nam hiện đại có rất nhiều sáng tác thơ văn viết về Hồ Chí Minh. Người trở thành cảm hứng bất tận cho thi ca mọi thời đại. Trong đó, Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, dạt dào cảm xúc, chạm đến trái tim người đọc. Dưới đây là phân tích Viếng lăng Bác chọn lọc hay nhất giúp các em học sinh ăn điểm trong bài thi môn ngữ văn.

1/ Giới thiệu tác phẩm /Đoạn trích /Tác giả /Bối cảnh tác phẩm

Đôi nét về nhà thơ Viễn Phương
Đôi nét về nhà thơ Viễn Phương

Tác giả Viễn Phương tên thật là Phan Thanh Viễn, sinh năm 1928, mất năm 2005. Ông quê ở An Giang, thuở nhỏ đi học tại quê nhà, đến khi cách mạng tháng Tám bùng nổ, Viễn Phương trực tiếp tham gia cách mạng. Năm 1952, ông đạt giải nhì về thơ trong giải thưởng Cửu Long về văn học nghệ Thuật.

Năm 1954, kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông về Sài Gòn tiếp tục hoạt động. Sau ngày miền Nam giải phóng, Viễn Phương được bầu làm Chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh, là thành viên của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2001, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng về Văn học nghệ thuật.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ, gian khổ của dân tộc, Viễn Phương hoạt động chủ yếu tại chiến trường Nam Bộ. Sáng tác của ông chủ yếu là truyện ngắn và thơ, thành công nhất ở lĩnh vực thơ. Điểm nổi bật của thơ Viễn Phương là giàu cảm xúc, cảm xúc tinh tế, cách miêu tả trong sáng, nền nã, ngôn từ phong phú, linh hoạt.

Những sáng tác tiêu biểu trong sự nghiệp văn chương của nhà thơ Viễn Phương có thể kể đến như: Quê hương địa đạo, Sắc lụa Trữ La, Lòng mẹ, Phù sa quê mẹ, Đá hoa cương, Gió lay hương quỳnh, Ngôi sao xanh, Miền sông nước, Tháng bảy mưa ngâu, Hình bóng thương yêu…

Bài thơ Viếng lăng Bác được tác giả viết vào tháng 4 năm 1976, đúng một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lúc đó, tác giả cùng đoàn đại biểu miền Nam lần đầu tiên ra Hà Nội thăm lăng Bác. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành.

Nội dung bài thơ thể hiện rõ tấm lòng thành kính, biết ơn sâu sắc của nhà thơ, của nhân dân miền Nam và rộng lớn hơn là của cả dân tộc Việt Nam đối với Bác, vị lãnh tụ kính yêu, người cha già của dân tộc.

Viếng lăng Bác được viết theo thể thơ 8 chữ, giọng điệu tha thiết, nhịp thơ trang nghiêm, hình ảnh giàu sức biểu cảm đã thể hiện một cách trọn vẹn tình cảm của tác giả với Bác. Nổi bật trong thơ là hình ảnh hàng tre – loài cây tượng trưng cho sức sống bất diệt, sự kiên cường của dân tộc Việt Nam.

2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

2.1. Mở bài:

– Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Viễn Phương: Viễn Phương là nhà thơ tiêu biểu của miền Nam trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ông quê ở An Giang, là ngòi bút tài năng của giới văn nghệ giải phóng miền Nam với nhiều sáng tác nổi bật…

– Khái quát về tác phẩm: Viếng lăng Bác được tác giả viết vào năm 1976, đúng tròn một năm sau ngày giải phóng miền Nam, trong chuyến thăm lăng Bác đầu tiên của đoàn đại biểu miền Nam. Bài thơ thể hiện tình yêu thương, lòng biết ơn của tác giả, của nhân dân miền Nam, của toàn dân tộc đối với Bác. Giọng thơ tha thiết, hình ảnh giàu cảm xúc giúp lột tả một cách trọn vẹn niềm xúc động, lòng thành kính đối với người.

2.2. Thân bài

– Phân tích cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng Bác

+ “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Câu thơ ngắn gọn nhưng ngập tràn nỗi niềm xúc động. Đại từ xưng hô “con” vừa gần gũi vừa thân thiết vừa ấm áp nghĩa tình. Nó giống như tâm trạng của người con ra thăm cha sau nhiều năm mỏi mòn, chờ đợi, mong ngóng.

+ “Thăm” là cách nói giảm nói tránh được tác giả sử dụng nhằm làm giảm nỗi đau mất mát. Đó cũng là cách nói thân mật làm bật nổi tâm tâm trạng, mong muốn được ra bắc thăm Bác của nhà thơ.

+ “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát/Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam/Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Hình ảnh hàng tre được sử dụng với nhiều ý nghĩa sâu sắc:

  • Hình ảnh hàng tre gợi chúng ta liên tưởng đến cảnh làng quê thân thuộc, nó trở thành biểu tượng của dân tộc, của đất nước Việt Nam.
  • Cây tre sức sống bền bỉ, thân cây vươn thẳng giống như khí chất, tâm hồn, sự thẳng thắn và kiên cường của người Việt. Dù đất đai khô cằn cây tre vẫn vươn mình trước gió. Người Việt cũng vậy, trong gian lao đứng dậy sáng lòa.
  • Từ “Ôi” biểu thị niềm xúc động lớn lao xen lẫn tự hào về phẩm chất cao đẹp, mạnh mẽ của dân tộc ta.

– Phân tích tình cảm nhớ thương của tác giả khi đứng trước lăng

Tình cảm nhớ thương của tác giả khi đứng trước lăng Bác
Tình cảm nhớ thương của tác giả khi đứng trước lăng Bác

+ Ở khổ thơ thứ 2: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ…”, Viễn Phương rất tài tình khi sử dụng cặp hình ảnh sóng đôi mang tính ẩn dụ: Mặt trời thiên nhiên rực rỡ và hình ảnh của người (Mặt trời trong lăng)

+ Tác giả ngầm ẩn dụ hình ảnh mặt trời để nói về Bác. Người chính là vị cha già dân tộc mang lại nguồn sống, ánh sáng, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

+ “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ/Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”, hình ảnh đoàn người vào viếng Bác là có thực, còn hình ảnh “kết tràng hoa” mang tính ẩn dụ độc đáo: Lịch sử dân tộc bước sang trang mới dưới ánh sáng cách mạng của Bác. “Bảy mươi chín mùa xuân” là hình ảnh hoán dụ tác giả sử dụng để chỉ tuổi của Bác.

+ Sang khổ thơ thứ 3: Từ lòng biết ơn thành kính, các xúc của tác giả chuyển sang nghẹn ngào, xúc động khi nhìn thấy “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên/Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền..”. Hình ảnh ánh sáng dịu nhẹ gợi người đọc liên tưởng đến vầng trăng sáng dịu hiền. Rất nhiều vần thơ Bác viết cũng gắn liền với hình ảnh ánh trăng, vầng trăng. Ánh sáng của nó giống như tâm hồn thanh cao của Bác vậy. Ở Người là sự hòa quyện giữa một tâm hồn thanh cao, một nhân cách vĩ đại với cuộc sống gần gũi, giản dị

+ “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi/Mà sao nghe nhói ở trong tim…”, tác giả đau nhói trước sự ra đi mãi mãi của người. Với người dân Việt, sự ra đi đó chính là hoá thân vào dáng hình xứ sở. Bởi thế, nhà thơ Tố Hữu từng viết “Bác sống như trời đất của ta”. Cụm từ “Đau nhói ở trong tim” thể hiện rõ sự quặn thắt, tê tái trong tâm hồn nhà khi đứng trước thi hài của Người. Đó là thứ cảm xúc chân thành của tác giả, của hàng triệu trái tim người dân đất việt.

– Phân tích cảm xúc của tác giả khi rời lăng Bác

+ “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”, câu thơ là lời giã từ đặc biệt, bịn rịn, thấm đẫm nước mắt của Viễn Phương đối với Bác. Từ “dâng trào” đã diễn tả được nỗi luyến tiếc không muốn rời xa.

+ Trong nỗi niềm ấy, nhà thơ ước muốn được hoá thân thành cây tre, thành con chim, thành đoá hoa để luôn được ở gần Bác. Điệp từ “muốn làm” đã làm bật nổi được sự lưu luyến của nhà thơ

+ Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đẹp “Muốn làm cây tre trung hiếu ở chốn này”. Cây tre tượng trưng cho tính cách, phẩm chất của con người Việt Nam: Thẳng thắng, bất khuất, trung hiếu. Đó cũng chính là lời hứa của tác giả đối với Bác, mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà người đã lựa chọn.

2.3. Kết luận:

– Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, ý nghĩa, chạm sâu tới trái tim người đọc. Bài thơ thể hiện rõ nỗi niềm xúc động, thành kính của nhà thơ, của nhân dân miền Nam, của cả dân tộc Việt Nam đối với Bác và con đường cách mạng mà Người đã chọn.

– Cách ngắt nhịp linh hoạt, giọng điệu thơ trang nghiêm, thiết tha, hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ đẹp, ngôn ngữ hàm súc, bình dị… đã giúp bài thơ này trở thành một trong những sáng tác nổi bật nhất viết về Bác kính yêu.

3/ viết 1 bài văn mẫu

Bài văn mẫu phân tích Viếng lăng Bác hay nhất
Bài văn mẫu phân tích Viếng lăng Bác hay nhất

Viễn Phương vốn là một hồn thơ nhẹ nhàng, bâng khuâng, man mác. Thơ của ông luôn chạm đến trái tim người đọc bởi cảm xúc dạt dào, dung dị mà sâu sắc, tinh tế mà chân thành. Viếng lăng Bác là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Viễn Phương. Bằng tình cảm chân thành của một người con miền Nam khi ra thăm lăng Bác, tác giả đã viết nên những vần thơ thật đẹp với tất cả nỗi niềm xúc động nhất.

Mở đầu bài thơ là những vần thơ tha thiết “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác/Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”. Cách xưng hô “Con – Bác” thân mật, gần gũi giống như máu thịt vậy. Sau những tháng ngày mong ngóng, cuối cùng tác giả – người con ấy cũng có dịp ra viếng lăng Bác. Con đến đây với Bác mang theo cả tình yêu thương của hàng triệu triệu trái tim đồng bào miền Nam. Dù cách xa hàng ngàn km nhưng chúng con vẫn luôn mong ngóng, dõi theo Người.

Trước lăng Bác là hàng tre xanh bát ngát. Hàng tre ấy xanh mướt, hiên ngang trước mưa gió để bảo vệ, che chở cho người yên giấc ngủ “Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam/Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Cái tài của tác giả là biết lựa chọn hình ảnh cây tre làm biểu tượng cho tâm hồn, cốt cách dân tộc Việt. Cây tre vốn có sức sống bền bỉ dù đất cằn sỏi đó, giống như dân tộc Việt, qua bao nhiêu gian khổ vẫn trường tồn mãi mãi.

Theo dòng người vào viếng lăng Bác, cảm xúc của tác giả có sự thay đổi rõ ràng: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”, từ nỗi niềm khao khát được ra thăm lăng Bác, khổ thứ hai chuyển sang nhớ thương, xúc động.

Nếu mặt trời của thiên nhiên vẫn miệt mài vận động theo quy luật của nó, vẫn đi bên Bác, chiếu sáng cho Người, mang lại nguồn sống, nguồn sáng cho muôn loài thì Bác cũng như ánh mặt trời vậy. Bác chính là mặt trời trong lăng, đẹp đẽ, vĩ đại, cao thượng. Không ai khác, chính Người đã tìm thấy con đường cách mạng, soi rọi cho cả dân tộc vùng lên giải phóng. Với con dân đất Việt, Bác là thứ ánh sáng ấm áp, tuyệt vời. Hình ảnh  thơ thật đẹp, chất chứa nỗi niềm xúc động và thành kính của tác giả với Bác – vị cha già dân tộc.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ/Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”. Bác vẫn nằm đó để chúng con từ khắp mọi miền về thăm. Tình yêu thương ấy kết thành những vòng hoa đẹp nhất dâng lên Người. Bảy mươi chín mùa xuân tượng trưng cho tuổi thọ của Bác. Chính Bác đã làm nên mùa xuân cho đất nước, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân tộc.

Khi vào trong lăng, nỗi lòng tác giả càng nghẹn ngào, đau xót khôn nguôi “Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên/Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền/Vẫn biết trời xanh là mãi mãi/Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Bác đang yên giấc ngàn thu giữa vàng trăng sáng dịu hiền. Viễn Phương thật tài tình khi sử dụng hình ảnh vầng trăng trong câu thơ để ngầm so sánh nhân cách cao thượng, vĩ đại của người như ánh sáng của vầng trăng.

Dẫu biết rằng Bác ra đi là để hoá thân vào dáng hình xứ sở, Người giống như  bầu trời xanh kia, mãi mãi trường tồn trong trái tim nhân dân Việt Nam song tác giả vẫn không tránh khỏi cảm giác đau lòng trước thực tại “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Có thể nào không buồn, không đau, không thổn thức, không thương tiếc khi bầu trời xanh của dân tộc đã mãi mãi ra đi. Lời thơ cất lên sao nhói lòng đến thế. Càng bên Bác, tác giả lại càng quyến luyến, bịn rịn chẳng muốn rời xa. Được ở bên người đó là khoảnh khắc quý giá. Viễn Phương không ngăn nổi dòng nước mắt khi nghĩ đến việc phải xa Người đi về miền Nam thân yêu.

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt/Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác/Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây/Muốn làm cây tre trung hiếu ở chốn này”. Khổ thơ cuối diễn tả ước muốn giản dị của tác giả là muốn làm con chim, muốn làm đoá hoa, muốn làm cây tre để luôn được ở bên Bác.

Cụm từ “muốn làm” lặp đi lặp lại nhiều lần giúp diễn tả khát khao khôn nguôi được ở lại bên người. Muốn làm con chim cất cao tiếng hát để ru giấc ngủ cho Người, muốn làm đoá hoa để toả hương thơm ngạt ngào, muốn là cây trẻ để canh giấc ngủ bình yên cho người. Tình cảm của tác giả cũng chính là tấm lòng, là nỗi niềm của nhân dân miền Nam với Bác.

“Hồ Chí Minh – đẹp nhất tên Người”, “Bác Hồ – người là niềm tin thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”. Viết về Bác trở thành chủ đề bất tận cho thi cả mọi thời đại. Trong thơ, hình ảnh người hiện lên thật đẹp, trong sáng, cao thượng, dung dị như chính cuộc đời vậy. Vần thơ nào, sáng tác nào viết về Người cũng đẹp, có sức sống vượt thời gian. Viếng lăng Bác của Viễn Phương không cầu kỳ, không hoa mỹ, không phô trương song lại là kết tinh của những tình cảm sâu sắc, chân thành nhất gửi đến Bác. Bài thơ cứ thế, chạm sâu đến người đọc một cách tự nhiên.

Nhắc đến những vần thơ hay viết về Bác không thể không nhắc Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương. Bố cục thơ ngắn gọn, hình ảnh đẹp, ngôn ngữ hàm súc, bình dị, giọng thơ nghiêm trang, tha thiết đã diễn ra một cách trọn vẹn, đầy đủ, sâu sắc và chân thành nhất tình cảm của tác giả đối với Bác. Bài thơ là tiếng lòng, là khúc ca ngân vàng ca ngợi về Người – vị cha già của dân tộc, mùa xuân của đất nước.

Lên đầu trang