Phân tích Bình Ngô Đại Cáo chọn lọc hay nhất

Bình Ngô Đại Cáo là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc? Vậy, làm sao để phân tích Bình Ngô Đại Cáo ăn điểm cao?

1/Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm

 

Đôi nét về Nguyễn Trãi và Bình Ngô Đại Cáo
Đôi nét về Nguyễn Trãi và Bình Ngô Đại Cáo

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 mất năm 1441, hiệu là Ức Trai, quê ở làng Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương sau đó chuyển về làng Nhị Khê nay thuộc Thường Tín – Hà Tây cũ. Thân sinh của ông là cụ Nguyễn Ứng Long vốn là một nhà nho nghèo hiếu học. Thân mẫu là bà Trần Thị Thái – con quan tư đồ. Lên 5 tuổi Nguyễn Trãi mồ côi mẹ, cuộc đời phải trải qua nhiều tai ương, mất mát nhưng ông vẫn không ngừng vươn lên trở thành một nhà nho yêu nước lỗi lạc.

Năm 1400 ông đỗ Thái học sinh rồi cùng cha của mình làm quan dưới triều Hồ. Năm 1407, giặc Minh tràn sang xâm lược nước ta. Nguyễn Trãi đã cùng đồng cam cộng khổ theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa. Cuối năm 1427 khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết Bình Ngô Đại Cáo để tuyên bố nền thái bình thịnh trì và hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng vương triều Lê Sơ.

Năm 1439, Nguyễn Trãi xin về ở ẩn tại Côn Sơn. Năm 1440 ông được vua Lê mời ra giúp nước, đến 1442 phải chịu án oan: Lệ Chi Viên và bị tru di tam tộc. Năm 1464, ông được Lê Thánh Tông minh oan. Từ đó, các sáng tác thơ văn của Nguyễn Trãi được sưu tầm lại.

Nguyễn Trãi lớn lên trong bối cảnh xã hội loạn lạc: Nội bộ triều đình phong kiến mâu thuẫn, lục đục, đất nước phải đối mặt với họa ngoại xâm, đời sống nhân dân lầm than, cơ cực, khởi nghĩa nông dân bùng nổ ở khắp nơi. Vì thế, thơ văn của ông đều hướng tới hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự tài ba, Nguyễn Trãi còn là nhà văn, nhà thơ xuất sắc, để lại cho đời nhiều sáng tác có giá trị:

  • Văn thơ chữ Hán: Trung quân từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Bình Ngô Đại Cáo, Chí Linh sơn phú, Lam Sơn thực lục, bia Vĩnh Lăng, Văn loại…
  • Văn thơ chữ Nôm:  Quốc âm thi tập với 254 bài thơ viết theo thể đường luật hoặc đường luật xen kẽ lục ngôn.
  • Ngoài sáng tác, Nguyễn Trãi còn có cuốn Dư địa chí là bộ sách về địa lý cổ nhất Việt Nam

Cuối năm 1427 cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược toàn thắng. Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lập ra vương triều Hậu Lê, sau đó sai Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo để bố cáo cho toàn dân biết về chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn sau 10 năm dài chiến đấu gian khổ, non sông từ đây vững bền.

Bố cục bài Cáo gồm 4 phần: Phần 1 từ đầu đến chứng cớ còn ghi là tiền đề lý luận. Phần 2: Tiếp đó đến ai bảo thần dân chịu được là bản cáo trạng về tội ác đẫm máu của kẻ thù (Soi chiếu lý luận vào thực tiễn). Phần 3: Tiếp đó đến “Cũng là chưa thấy xưa nay” là bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Phần 4 là phần còn lại: Lời tuyên bố độc lập.

Về nội dung, Bình Ngô Đại Cáo là bản tuyên ngôn độc lập ca ngợi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài Cáo lý luận chặt chẽ, lời lẽ hùng hồn, kết hợp giữa yếu tố chính luận với yếu tố văn chương, sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật: Liệt kê, phóng đại, đối lập, so sánh… tạo nên một áng thiên cổ hùng văn sống mãi với thời gian.

2/ Lập dàn ý cho bài phân tích    

 

Lập dàn ý bài văn phân tích Bình Ngô Đại Cáo
Lập dàn ý bài văn phân tích Bình Ngô Đại Cáo

2.1. Mở bài

– Giới thiệu sơ lược và tác giả Nguyễn Trãi: Là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, nhà thơ, nhà văn với khối lượng sáng tác đồ sộ…

– Đôi nét về tác phẩm: Bình Ngô Đại Cáo là áng thiên cổ hùng văn, là tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, tuyên bố nền thái bình thịnh trị.

2.2. Thân bài

a. Tiền đề lý luận

– Tư tưởng nhân nghĩa

  • Trong quan điểm của Nho giáo, nhân nghĩa là mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí.
  • Trong quan điểm của Nguyễn Trãi: Nhân nghĩa là yên dân là làm cho cuộc sống của nhân dân được hạnh phúc, ấm no. Tư tưởng này được cụ thể hóa với nội dung: diệt giặc ngoại xâm, trừ kẻ bạo tàn. Với quan điểm mới mẻ này, tác giả đã bóc trần luận điệu xảo trá của kẻ thù, chỉ ra tính chính nghĩa của quân ta, hành động phi nghĩa của kẻ thù. Nhờ tính chính nghĩa mà cuộc khởi Lam Sơn được đông đảo nhân dân ủng hộ, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

– Chân lý về độc lập

  • Tác giả khẳng định tư cách độc lập của quốc gia Đại Việt thông qua hàng loạt bằng chứng xác thực: Nền văn hóa lâu đời, cương vực lãnh thổ riêng, phong tục Bắc Nam phong phú, lịch sử trải qua nhiều triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, hào kiệt đời nào cũng có. Đó là những bằng chứng hùng hồn để khẳng định tư cách độc lập của nhà nước Đại Việt, là chân lý không thể chối cãi.
  • Từ ngữ: Từ trước, đã lâu, vốn xưng để khẳng định rằng: Sự ra đời và tồn tại của quốc gia Đại Việt là hiển nhiên

– Thái độ của tác giả:            

  • So sánh Đại Việt ngang hàng với các triều đại của Trung Hoa
  • Gọi các vị vua của Đại Việt là “đế”: Còn từ trước đến nay: Hoàng đế phương Bắc chỉ coi vua nước Việt là vương.
  • Sử dụng biện pháp liệt kê: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi… đều thất bại, đó là cái kết thảm bại của kẻ xâm lược

→ Điều đó cho thấy Nguyễn Trãi luôn có ý thức cao về chủ quyền dân tộc

b. Soi lý luận vào thực tiễn

 

Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược

– Tội ác của quân Minh

  • Xâm lược phi nghĩa: Nhân,thừa cơ: Nhân cơ hội nhà nhà Hồ vừa lên nắm quyền sau sự kiện Hồ Quý Ly soán ngôi, giặc minh mượn chiêu bài: Phù Trần diệt Hồ để gây chiến tranh xâm lược.
  • Tội ác với nhân dân: Nước dân đen trên ngọn lửa hung tan, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chúng khủng bố, sát hại người dân vô tội, bóc lột nhân dân ta bằng thuế khóa nặng nề, bóc lột sức lao động của của dân Đại Việt, phá hoại mùa màng.

→ Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê để tố cáo tội ác của kẻ thù, qua đó làm bật nổi hình ảnh đáng thương, khổ sở của nhân dân ta. Nguyễn Trãi xót xa, đau đớn, căm phẫn trước tội ác của quân Minh.

– Lòng căm thù giặc của nhân dân:

  • “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”, tác giả sử dụng hình ảnh phóng đại: Lấy cái vô cùng, vô tận của tự nhiên để nói về tội ác của giặc.
  • “Lẽ nào… chịu được”: Sử dụng câu hỏi tu từ để khẳng định tội ác của giặc Minh là không thể tha thứ

→ Đây là bản cáo trạng đanh thép của Nguyễn Trãi về tội ác của kẻ thù.

c. Diễn biến của khởi nghĩa Lam San

– Hình ảnh lãnh tụ Lê Lợi

  • Xuất thân: Người nông dân áo vải
  • Chọn nơi dấy binh khởi nghĩa là vùng núi Lam Sơn – Thanh Hóa
  • Lê Lợi có lòng căm thù giặc sục sôi, thề không đội trời chung, là người có chí lớn, quyết tâm đánh giặc cứu dân cứu nước: Đau lòng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời/Nếm mật nằm gai há chẳng phải một hai sớm tối…

→ Lê lợi là con người bình dị, là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Qua đó, Nguyễn Trãi muốn khẳng định tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa.

– Về cuộc khởi nghĩa:

  • Giai đoạn đầu gặp muôn vàn khó khăn: Lương hết mấy tuần, quân không một đội nhưng quân dân vẫn quyết chí một lòng, đồng cam, cộng khổ: Gắng chí, đồng lòng, đoàn kết.
  • Giai đoạn phản công và giành thắng lợi: Chiến thắng ban đầu: Trận Bạch Đằng, miền Trà Lân….Tiếp đến là những thắng lợi to lớn khác “Trần Trí, Sơn Thọ… thoát thân, tiêu diệt luôn đoàn quân viện binh của giặc.
  • Thất bại nhục nhã của kẻ thù: Thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm, bêu đầu, bỏ mạng, cởi giáp xin hàng… Tác giả sử dụng nghệ thuật phóng đại, cường điệu hóa để làm nổi bật tổn thất to lớn của kẻ thù.
  • Khí thế của quân ta: “Gươm mài đá đá núi cũng mòn, voi uống nước nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình ngạc. Đánh hai trận tan tác chim muông…”, Nguyễn Trãi ca ngợi khí thế ngút trời của quân ta
  • Trong thế thắng, quân ta lại thực thi chính sách nhân nghĩa: “Thần vũ chẳng giết hại…”, đó là cách ứng xử khôn khéo vừa thể hiện tính nhân đạo của quân ta vừa là sự chuẩn bị cần thiết cho chính sách ngoại giao sau này. Dẫu sao, nhà Minh – phong kiến phương Bắc vẫn là nước lớn, hùng mạnh.

d. Thể hiện niềm tin, ý chí

  • “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới…”: Giọng điệu hào sảng, trang trọng cho thấy niềm tin của tác giả vào tương lai đất nước
  • Hình ảnh: Kiền khôn, nhật nguyệt, ngàn thu sạch làu: Cho thấy đất nước đang vận động theo chiều hướng tốt đẹp.

e. Nghệ thuật trong bài Cáo

  • Sử dụng thể Cáo một cách sáng tạo và khéo léo
  • Kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính trị và yếu tố văn chương
  • Sử dụng biện pháp liệt kê, đối lập, phóng đại…

2.3 Kết luận

– Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của Bình Ngô Đại Cáo

– Liên hệ, mở rộng với Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên.

3/ viết 1 bài văn mẫu  

 

Bài văn mẫu phân tích Bình Ngô Đại Cáo
Bài văn mẫu phân tích Bình Ngô Đại Cáo

Trong nền văn học Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Trãi được ví là ngôi sao sáng. Ông không chỉ là nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị tài ba mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn với nhiều sáng tác đặc sắc viết bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm. Trong đó, Bình Ngô Đại Cáo là áng văn chính luận sắc sảo, hùng hồn, đanh thép. Bài Cáo viết vào đầu năm 1428, thừa lệnh của Lê Lợi để tổng kết thắng lợi cuộc kháng chiến chống Minh đồng thời bố cáo thái bình thịnh trị với muôn dân. Đây được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc.

Mở đầu bài Cáo, tác giả nêu luận đề chính nghĩa để làm nền tảng tư tưởng cho toàn bộ bài Cáo của mình:

“Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…”

Với hai câu ngắn gọn, tác giả đã nêu rõ tư tưởng xuyên suốt của tác phẩm cũng như của cuộc khởi nghĩa là nhân nghĩa. Đây là phạm trù tư tưởng quen thuộc trong quan điểm Nho giáo thể hiện cách ứng xử hoặc mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Ở Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa thể hiện ở việc trừ bạo để yên dân. Nói cách khác, trong tư tưởng của ông cũng là nền tảng xuyên suốt bài Cáo là vì dân, lấy dân làm gốc, yêu dân, thương dân, vì dân mà diệt giặc. Mở đầu bài Cáo, tác giả còn viết thêm:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục bắc nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh,Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Dù mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có”

Với đoạn mở đầu ngắn gọn, tác giả đã nêu rõ cơ sở pháp lý về sự tồn tại độc lập của quốc gia Đại Việt. Nước ta có nền văn hiến lâu đời, phong tục Bắc Nam có từ ngàn năm, bờ cõi, lãnh thổ riêng đã được mọi người thừa nhận. Bằng việc đặt ngang hàng các triều đại phong kiến Việt Nam với các triều đại phong kiến Phương Bắc, Nguyễn Trãi muốn khẳng định: Quốc gia Đại Việt có cơ sở để độc lập, cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Tác giả không dừng lại ở việc nêu chân lý của nền độc lập mà còn tái hiện một cách đầy đủ những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn:

“Lưu công tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô mã

Việc xưa xem xét chứng cớ còn ghi”

Trên cơ sở lý luận, phần tiếp theo tác giả đi vào thực tế, tố cáo tội ác giã man của kẻ thù đối với nhân dân ta:

“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà bán nước cầu vinh…”

Qua 4 câu thơ, Nguyễn Trãi đã vạch rõ âm mưu của kẻ thù là lợi dụng tình hình nước ta dưới thời Hồ rối loạn nên đưa ra chiêu trò “phù Trần diệt Hồ” để tiến vào xâm lược. Nguyễn Trãi còn tố cáo một cách đanh thép tội ác man rợ của kẻ thù:

“…Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…”

Ở đây, tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh tội giết người tàn bạo của quân Minh. Dân đen, con đỏ vốn là những con người vô tội nhưng chúng cũng không tha. Chúng tàn sát người dân vô tội bằng cách đẩy họ vào chốn rừng thiêng, nước độc với muôn vàn nguy hiểm rình rập “Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng/Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng thiêng nước độc…”.

Không chỉ thế, sự tàn độc của kẻ thù còn thể hiện ở chính sách thuế khóa nặng nề, phu phen tạp dịch “Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…. vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới giăng/Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt/Tàn hại giống côn trùng cây cỏ…”

Nguyễn Trãi sử dụng rất nhiều hình ảnh mang tính tả thực và giàu tính biểu tượng. Chuyển sang đoạn hai của bài Cáo là bản cáo trạng đanh thép vạch rõ từng tội ác của giặc Minh.

“Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Độc ác thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi

Lễ nào trời đất dung tha

Ai bảo thần dân chịu được”

Bài Cáo của Nguyễn Trãi không dừng lại ở việc nêu tính chính nghĩa của quân ta, vạch rõ tội ác của kẻ thù mà còn là một thước phim trung thực miêu tả đầy đủ và trọn vẹn về quá trình chống Minh Xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn.

“Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương minh”

Chữ ta đặt ở đầu câu thơ khẳng định lai lịch, nguồn gốc xuất thân của người anh hùng Lê Lợi. Vốn là nông dân, hơn ai hết Lê Lợi hiểu rõ nỗi nhọc nhằn của người dân mất nước: Thề không đội trời chung. Không chỉ căm thù giặc, Lê Lợi còn sẵn sàng nếm mật nằm gai, quên ăn để tìm cách đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.

Ngoài việc tái hiện hình ảnh chủ tướng Lê Lợi, Đại Cáo Bình Ngô còn tái hiện trọn vẹn cuộc chiến đấu khó khăn, gian khổ của nghĩa quân để đi đến thắng lợi cuối cùng. Những ngày đầu trên núi Chí Linh, quân Lam Sơn bị bao vây gặp muôn vàn khó khăn: Lương hết, quân không, bốn bề bị bao vây… Ngược lại, quân giặc đông, mạnh, vũ khí, lượng thực đầy đủ

Thế nhưng, với tinh thần quả cảm, quyết tâm đấu tranh đến cùng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo”, nghĩa quân Lam Sơn đã vượt qua khó khăn để giành chiến thắng vẻ vang, liên tục:

“Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng, thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hai lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn”

Có thể thấy, phần ba của bài Cáo Bình Ngô tái hiện lại một cách chân thực, sâu sắc hình ảnh của chủ tướng Lê Lợi. Trong khó khăn, Lê Lợi vẫn cùng anh em nghĩa quân chiến đấu bền bỉ, không bao giờ chùn bước. Từ những ngày đầu gian khổ cho đến mười năm sau, nghĩa quân đã giành chiến thắng vang dội.

Tội ác của kẻ thù là vậy nhưng Lê Lợi và Nguyễn Trãi vẫn thể hiện đức hiếu sinh: Cấp ngựa thuyền cho quân giặc rút về nước an toàn. Hành động của quân ta thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa nên thắng lợi âu cũng là lẽ trời. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, phần cuối bài Cáo là lời tuyên bố độc lập, hòa bình vững chắc:

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Xa gần bá cáo, ai nấy đều hay”

Giọng văn trở nên hào hùng, đanh thép, bố cáo trước toàn dân về nền độc lập dân tộc. Bao trùm bài Cáo còn là niềm tin, sự ngợi ca về tương lai tốt đẹp của dân tộc. Từ đây, một trang sử mới được mở ra cùng với sự phát triển thịnh trị của vương triều Lê Sơ.

Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không đơn thuần là một văn kiện lịch sử mà còn là một áng văn chính luận đặc sắc xen kẽ yếu tố trữ tình. Vì thế, nó dễ thấm vào lòng người đọc bằng những hình ảnh giàu sức biểu cảm, ngôn ngữ đanh thép… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Bình Ngô Đại Cáo vẫn vẹn nguyên giá trị, là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc.

Lên đầu trang