Làm sao để phân tích Người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu ăn điểm cao? Tham khảo hướng dẫn dưới đây bạn sẽ tự tin giành điểm 9, 10 trong bài thi.

1/ Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích/tác giả/bối cảnh tác phẩm
Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, mất năm 1989. Ông sinh ra và lớn lên ở làng Thời thuộc xã Quỳnh Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Năm 1950 ông nhập ngũ, sau đó theo học tại trường Sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ 1952 đến 1958, Nguyễn Minh Châu công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 320. Đến năm 1962, ông được điều động về phòng văn nghệ quân đội, rồi chuyển sang làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội. Có thể nói, ông là một trong những ngòi bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Với những đóng góp to lớn của mình, năm 2000, Nguyễn Minh Châu nhà nước được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học Nghệ Thuật. Những tác phẩm nổi bật trong cuộc đời sáng tác của ông có thể kể đến như: Cửa sông, Dấu chân người lính, Miền cháy, Lửa cháy từ những ngôi nhà, Những vùng trời khác nhau, Những người đi từ trong rừng ra, Mảnh đất tình yêu, Từ giã tuổi thơ, Những ngày lưu lạc, Đảo đá kỳ lạ, Trang giấy trước đèn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa….
Điểm nổi bật trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu là: Trước năm 1975, ông chủ yếu khai thác đề tài người anh hùng trong chiến đấu, trong lao động với cảm hứng lãng mạn, mang thiên hướng sử thi. Ngược lại, sau năm 1975, ngòi bút của ông tập trung vào khai thác các vấn đề mang tính thế sự bằng cái nhìn sắc bén, ngôn ngữ bình dị, gần gũi, đời thường.
Chiếc thuyền ngoài xa được tác giả viết vào tháng 8 năm 1983, in trong tác phẩm cùng tên. Bố cục câu chuyện gồm 3 phần: Phần 1: Từ đầu đến “chiếc thuyền lưới vó đã biến mất”: Phát hiện của nghệ sĩ Phùng. Phần 2: Tiếp đó đến “Chống chọi với sóng gió giữa phá”: Viết về cuộc đời người đàn bà hàng chài. Phần 3: Còn lại là tấm ảnh được chọn để làm bộ lịch của năm ấy.
Nội dung tác phẩm: Để có một bộ lịch về thuyền và biển, nghệ sĩ Phùng đã nhận lời của trưởng phòng đi tới vùng biển nơi từng là chiến trường cũ của mình trong cuộc chiến chống Mỹ. Sau nhiều ngày phục kích, anh đã chụp được cảnh “đắt” trời cho. Đó là cảnh chiếc chuyền xuất hiện ngoài xa trong làn sương sớm mờ ảo. Nó đẹp như bức tranh mực tàu.
Thế nhưng, khi chiếc thuyền ấy tiến sát vào bờ, Phùng ngạc nhiên sững sờ khi chứng kiến cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ và đứa con mình một cách dã mãn. Còn đứa con vì muốn bảo vệ người mẹ đã đánh trả lại chính người cha ruột của mình. Cảnh tượng đó không chỉ diễn ra một lần mà tiếp diễn nhiều lần trong những ngày tiếp theo. Bởi thế, nghệ sĩ Phùng đã quyết định can thiệp, nhờ chánh án Đẩu giúp đỡ.
Người đàn bà hàng chài sau khi đến tòa án Huyện lại từ chối sự giúp đỡ của Đẩu, kiên quyết không ly hôn người chồng vũ phu. Rồi chị bắt đầu kể về câu chuyện cuộc đời mình, đồng thời nói rõ lý do tại sao lại không ly hôn. Bản thân Phùng sau khi rời khỏi vùng biển đã có nhiều bức ảnh ưng ý. Thế nhưng, mỗi lần ngắm những tấm ảnh ấy anh thì hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ lại hiện lên trong đầu. cảnh tượng ấy khiến Phùng thực sự đau đáu, khôn nguôi.
2/ Lập dàn ý cho bài phân tích

2.1 Mở bài
– Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm: Nhà văn Nguyễn Minh Châu là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Các sáng tác của ông gắn với cuộc sống của người lao động. Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn được sáng tác năm 1983, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
– Dẫn dắt đến hình ảnh người đàn bà hàng chài: Đây là nhân vật chính trong tác phẩm được nhà văn dày công xây dựng với số phận lam lũ, khắc khổ, giàu đức hy sinh khiến người đọc day dứt khôn nguôi.
2.2. Thân bài

a. Khái quát tình huống truyện
– Nghệ sĩ Phùng về vùng quê miền biển, nơi từng là chiến trường cũ của anh với mong muốn chụp được những bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển làm lịch. Anh đã chộp được cảnh “đắt” trời cho: Chiếc thuyền xuất hiện ngoài xa trong làn sương sớm. Thế nhưng, khi thuyền càng tiến lại gần, anh được chứng kiến nghịch cảnh đau đớn: Người chồng bạo hành vợ con ngay khi vừa bước xuống từ con thuyền ấy. Cảnh bạo hành đó vẫn cứ tiếp diễn hàng ngày nên ảnh đã quyết định nhờ chánh án Đẩu (Vốn là bạn của nghệ sĩ Phùng) giúp đỡ. Người đàn bà hàng chài được mời đến để giải quyết chuyện gia đình nhưng chị đã từ chối việc ly hôn. Tác phẩm là suy ngẫm, là phát hiện sâu sắc của tác giả về con người, mỗi quan hệ giữa nghệ thuật với hiện thực.
b. Người đàn bà hàng chài – Hiện thân của nỗi thống khổ
– Về hoàn cảnh xuất thân
- Không có tên gọi cụ thể, được gọi bằng mụ hoặc người đàn bà hàng chài. Đây là cách gọi phiếm định
- Trạc ngoài 40 tuổi
- Hoàn cảnh nghèo túng, gia đình đông con
- Không gian sống: Trên chiếc thuyền lưới vó chật hẹp
– Về ngoại hình:
- Cao lớn, thô kệch
- Mặt rỗ, tái mét vì mệt mỏi, lo toan, không có sức sống
- Dáng đi chậm chạp như bà già, cho thấy sự mặc cảm, tự ti
- Tấm áo đã bạc phếch, rách rưới.
=> Tất cả cho thấy sự nghèo khổ, vất vả, lam lũ của người đàn bà hàng chài.
– Về số phận:
Số phận bất hạnh, khổ đau nhưng vẫn cam chịu hy sinh vì những đứa con:
- Thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ nhưng vẫn không chạy trốn, không kêu van
- Chị cam chịu, nhẫn nhục không một lời oán thán
- Khi thằng Phác (Con của chị) xuất hiện, chị cảm thấy xấu hổ, nhục nhã vì phải để con của mình chứng kiến cảnh này. Chị ôm lấy đứa con vì sợ thằng bé bị tổn thương.
- Chị chắp tay xin con đừng vì lo cho mẹ mà trở thành đứa con bất hiếu với cha, làm những việc trái với luân thường đạo lí.
=> Có thể thấy, người đàn bà hàng chài là hiện thân của những kiếp người bất hạnh, số phận hẩm hiu, nỗi đau chồng chất lên nhau.
c. Vẻ đẹp tiềm ẩn của người đàn bà hàng chài
– Người vợ bao dung, độ lượng, vị tha
- Có cái nhìn bao dung đối với người chồng: Thấy người đàn ông đáng thương nên cần được cảm thông: Lão chồng tôi khi ấy hiền lành, không bao giờ đánh đập tôi. Vì “Trốn đi lính nguỵ và cuộc sống nghèo khổ đã biến anh ta thành kẻ ác.
- Coi chồng là người bạn đời thân thiết: Cùng nhau chèo chống con thuyền trong phong ba bão táp, cùng mưu sinh, cùng nuôi con
- Dù bị đánh đập vẫn bênh chồng, nhận lỗi về mình: Cái lỗi chính là ở đám đàn bà chúng tôi, giá tôi đẻ ít đi. => Người đàn bà hàng chài tự trách mình vì đẻ nhiều dẫn đến đói nghèo nên mới bị chồng đánh.
- Coi trọng, nâng niu những phút giây hạnh phúc: “Vả lại trên thuyền cũng có lúc vợ chồng, con cái vui vẻ, hòa thuận…”
– Người mẹ thương con, giàu đức hy sinh
- “Đàn bà trên thuyền chúng tôi… “ coi việc chịu đói khổ là lẽ đương nhiên vì hạnh phúc của con cái.
- Vui nhất là khi được thấy cảnh những đứa con được ăn no => Sẵn sàng chịu đựng chồng hành hạ để nuôi các con khôn lớn.
- Muốn gia đình có đầy đủ cha và mẹ để chúng không phải thiệt thòi.
- Sống ở trên biển, người đàn bà luôn cần có người đàn ông bên cạnh nhất là vào những ngày mưa bão.
– Người đàn bà làng chài hiểu lẽ đời
- Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ “ Trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con khôn lớn.
- Ở toà án, chị làm cho Phùng và Đẩu đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chị kể lại những uẩn khúc trong cuộc đời mình. Từ đó, Phùng và Đẩu hiểu rõ vì sao chị cam chịu, không muốn ly hôn với chồng.
- Qua hình ảnh người đàn bà làng chài giúp người đọc có cái nhìn đa chiều, khách quan hơn về cuộc đời và con người. Mọi việc không thể phán đoán, đánh giá nếu chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài. Do đó, trước khi suy xét vấn đề nào chúng ta cần thấu hiểu, cần tìm hiểu tường tận.
d. Cảm nhận về người đàn bà hàng chài
– Sự thành công của Nguyễn Minh Châu trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật:
- Sau này, mỗi khi nhìn vào bức tranh, Phùng lại thấy một người đàn bà bước ra từ tấm ảnh, hòa lẫn trong đám đông… => Đó là biểu tượng cho những người lao động bình dị, lam lũ nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp
- Người đàn bà làng chài là hình ảnh nghệ thuật ám ảnh trong tâm khảm người đọc. Từ đó, nhà văn bộc lộ rõ tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.
- Đó là sự thương cảm, thấu hiệu với cuộc sống của những kiếp người nghèo khổ, bế tắc
- Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra vẻ đẹp nhân văn trong mỗi con người mà nếu chỉ nhìn bề ngoài chúng ta không thể đánh giá được.
e. Đặc sắc nghệ thuật trong cách xây dựng hình tượng nhân vật
Cái tài của Nguyễn Minh Châu là đặt nhân vật của mình vào trong tình huống vô công nghịch lý: Bị chồng đánh nhưng không oán trách, không phản ứng, không muốn ly hôn. Điều đó càng khiến người đọc tò mò về những uẩn khúc, ngang trái, phức tạp trong cuộc sống của người đàn bà hàng chài.
Số phận của người phụ nữ ấy thực sự rất đáng cảm thông. Dù cuộc sống khổ cực nhưng ở chị vẫn toát lên vẻ đẹp của sự bao dung, đức hy sinh, yêu thương con hết mực. Tác giả đã khắc hoạ chân thực, sống động nhân vật của mình thông qua: Ngôn ngữ, hành động, hình ảnh vừa giản dị nhưng giàu tính triết lý.
2.3 Kết luận
Khái quát lại giá trị, ý nghĩa hình ảnh nhân vật:
- Người đàn bà hàng chài là người phụ nữ lam lũ, bất hành, thiệt thòi nhưng hiểu lẽ đời, tâm hồn bao dung, vị tha, giàu đức hy sinh vì con.
- Đó là hạt ngọc ẩn dấu trong những vất vả của cuộc sống đời thường đã được tác giả phát hiện ra thông qua cái nhìn đa chiều, giàu tình thương, sự trân trọng
- Nghệ thuật xây dựng cốt truyện hấp dẫn, tình huống truyện độc đáo, khắc hoạ nhân vật tài tình, ngôn ngữ linh hoạt…
3/ viết 1 bài văn mẫu

Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm nổi bật thể hiện rõ phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. Bằng cái nhìn đa chiều, góc tiếp cận cuộc sống sâu sắc, tác giả đã khắc hoạ thành công hình ảnh người đàn bà hàng chài khiến người đọc đau đáu nhiều nỗi niềm. Truyện được viết vào năm 1983, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn khó khăn, còn nhiều mặt trái khiến cuộc sống con người khốn khó.
Trong tác phẩm, người đàn bà hàng chài là trọng tâm của câu chuyện được nghệ sĩ Phùng kể lại. Nhân vật này xuất hiện trong phát hiện thứ 2 của Phùng khi về vùng biển quê mình để chụp ảnh. Qua câu chuyện chị kể ở toà án, không chỉ tác giả mà người đọc cũng thấy xót thương cho số phận của người phụ nữ.
Người đàn bà ấy ngoại hình thô kệch, xấu xí “Chị vốn là đứa con gái xấu lại rỗ mặt sau một bận lên đậu mùa”. Chị đã trạc ngoài 40, cuộc đời kém may mắn: “Cũng vì cái xấu mà trong phố không ai lấy. Tôi có mang với một anh con trai của một hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”
Tuy cuộc sống lam lũ, vất vả nhưng chị không hề than trách, vẫn cam chịu và nhẫn nhục vì các con “Người chồng lúc trút cơn tức giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà. Lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, mỗi mối nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng: Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ…”
Có thể nói, chị bị chồng hành hạ tàn bạo, chuyện đó không phải chỉ diễn ra một lần mà lặp đi lặp lại hàng ngày. Thế nhưng, chị không trốn chạy, không chống trả cũng không hề khóc. Khi thằng Phác con của chị nhìn thấy cảnh mình bị đánh đập chị cảm thấy xấu hổ và nhục nhã. Sự đau đớn vì đòn roi không làm chị bật khóc nhưng giọt nước mắt ấy của chị đã rơi khi đứa con của mình phải chứng kiến cảnh bản thân bị chồng đánh đập dã man.
Chị là người phụ nữ sâu sắc, hiểu lẽ đời, thương con vô bờ bến, giàu đức hy sinh. Vì thế, khi được mời đến tòa để giải quyết việc gia đình: Ban đầu chị rụt rè, tìm một góc tường ở chốn công đường để ngồi. Theo Nguyễn Minh Châu, đây không phải là lần đầu tiên người đàn bà ấy đến công đường nhưng vẫn sợ sệt, rụt rè, lúng túng. Chị ngồi vào mép ghế, cố thu người lại như để tự vệ dù đã được Đẩu tâm sự bằng những lời thân mật, cảm thông.
Khi mới gặp chánh án Đầu chị xưng con: “Con lạy quý tòa, quý tòa bắt con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Thế nhưng khi thấy nghệ sĩ Phùng xuất hiện chị ngay lập tức ngẩng đầu lên nói “Chị ảm ơn các chú…. Các chú đâu phải là người làm ăn nên các chú đâu có hiểu cái việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc” Lời nói của chị lúc này khiến cho cả Đẩu và Phùng hết sức ngạc nhiên.
Chị không muốn ly hôn chồng bởi bản thân hiểu rõ: Cái nghề chài lưới trên thuyền vó không thể thiếu bàn tay, sức lực của người đàn ông. Muốn duy trì sự sống cho gia đình, cho các con họ cần phải hợp sức lại làm việc quần quật. Hoàn cảnh gia đình chị cũng giống như bao gia đình hàng chài khác. Bởi thế, chị coi nỗi khổ vận vào đời mình là lẽ đương nhiên nên bản thân chấp nhận không một lời oán thán.
Chị sống vì các con chứ không phải vì bản thân mình. Chị chấp nhận chồng đánh nhưng đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy. Đó là cách hành xử thông minh và thấu đáo của người đàn bà hàng chài. Qua hình ảnh của chị Phùng và Đẩu nhận thức được nhiều điều: Đó là nỗi nhọc nhằn của công việc mưu sinh nơi cửa biển, đó là cuộc sống bấp bênh, nghịch cảnh của những người lao động khốn khổ. đó là đức hy sinh, cam chịu, giàu lòng vị tha của người phụ nữ…
Tuy cuộc sống khốn khổ nhưng ở chị vẫn có một niềm tin mãnh liệt, lạc quan “Trên thuyền cũng có lúc vợ chồng, con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ”, “Nhìn đàn con được ăn no là tôi thấy vui”. Hạnh phúc của người đàn bà hàng chài đơn giản chỉ có vậy, giản dị nhưng chứa đựng cả tấm lòng. Truyện kết thúc nhưng người đọc vẫn không biết tên của chị là gì? Có phải đó là sơ suất của Nguyễn Minh Châu?
Thực chất, đó là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Nghệ sĩ Phùng kể lại rằng, mỗi khi ngắm bức tranh ấy anh lại thấy hình ảnh người đàn bà hàng chài nước ra từ bức tranh. Mụ nước chậm rãi, bàn chân dẫm trên mặt đất, hoà lẫn trong đám đông… Tác giả không đặt tên nhân vật bởi người đàn bà ấy là một người trong số rất nhiều những con người lam lũ, nhọc nhằn.
Bằng cách sử dụng biện pháp đối lập giữa hoàn cảnh với tính cách, giữa ngoại hình với tâm hồn, tác giả đã có cái nhìn mới mẻ hơn, toàn diện và khách quan hơn về số phận và cuộc đời con người. Ông phát hiện ra vẻ đẹp của những con người lam lũ, bình thường đúng như tâm niệm sáng tác là đi tìm “Hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”. Đó cũng chính là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà Nguyễn Minh Châu chính là “Khai quốc công thần” Vì thế, Chiếc thuyền ngoài xa – hình ảnh người đàn bà hàng chài vẫn sống mãi trong lòng bạn đọc bao thế hệ.





