Vợ nhặt được xuất bản lần đầu vào năm 1962, tám năm kể từ khi Kim Lân đặt dấu chấm hoàn thành câu chuyện. Tác phẩm là một áng văn hiện thực, viết về cuộc sống nghèo đói và khổ sở của người nông dân Bắc Bộ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Sinh trưởng trong gia đình không mấy khá giả, đất nước lại lâm nguy vì nạn đói hậu chiến tranh có lẽ là nỗi đau thôi thúc nhà văn chấp bút, tái hiện lại khung cảnh thảm khốc thời bấy giờ với mong muốn lưu giữ một phần lịch sử.

Dưới ngòi bút của Kim Lân, độc giả được về với năm tháng nghèo khó của những người nông dân, vốn chiếm phần lớn đất nước trong thời kỳ đó. Đồng thời, Vợ nhặt còn mở ra cái nhìn nhân sinh sâu sắc qua ba nhân vật là thị, Tràng và bà cụ Tứ.

Tuy cuộc sống của mẹ con Tràng không mấy khá giả nhưng họ vẫn chấp nhận đèo bòng thêm thị, dẫu còn chút lo sợ nhưng chỉ sau một đêm thị về làm vợ Tràng, làm con dâu bà cụ Tứ, những người khốn khổ ấy đã trở thành gia đình của nhau.

Làng quê Bắc Bộ dưới ngòi bút của Kim Lân 

Kim Lân sinh năm 1920 tại Bắc Ninh và mất năm 2007 tại Hà Nội, ông sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả nên chỉ có thể học hết tiểu học rồi đi làm. Trước khi trở thành nhà văn, Kim Lân từng trải qua nhiều ngành nghề khác nhau, có lúc làm thợ sơn guốc, có khi khắc tranh bình phong.

Tuy cùng lúc làm nhiều việc nhưng ông vẫn dành thời gian cho viết lách, Kim Lân bắt đầu sáng tác truyện ngắn từ năm 1941, tập trung khắc hoạ sự khổ cực của người nông dân và nét ảm đạm của làng quê Bắc Bộ ngày đó.

Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn như Làng, Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu hay Cô Vịa đã gợi lại không khí tiêu điều của nông thôn Việt Nam, cuộc sống lam lũ và vất vả của con người trong thời kỳ kháng chiến cho nhiều độc giả.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Ảnh nhà văn Kim Lân với nét mộc mạc

Ngoài viết truyện, Kim Lân còn tham gia diễn kịch và đóng phim nhằm phục vụ kháng chiến cứu quốc. Một số nhân vật tiêu biểu mà ông từng hóa thân là Lão Hạc trong phim Làng Vũ đại ngày ấy hay Lý Cựu trong phim Chị Dậu, cụ Lang Tâm trong phim Hà Nội 12 ngày đêm .

Hầu hết vai diễn của nhà văn đều được chuyển thể từ các tác phẩm văn học nổi tiếng như Lão Hạc của Nam Cao, Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Riêng Hà Nội 12 ngày đêm thì đặc biệt hơn cả, bộ phim được dựa trên cuộc chiến chống tập kích máy bay B-52 của Hà Nội vào năm 1972.

Với nỗ lực hoạt động không ngừng nghỉ ở nhiều ngành nghề, Kim Lân dần được công chúng biết đến. Các tác phẩm văn học cùng những vai diễn theo đó đến gần hơn với mọi nhà, trở thành “món ăn” tinh thần trong những năm tháng cơ cực của đất nước.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Vợ nhặt nằm trong tập truyện ngắn nổi tiếng của Kim Lân

Thế nhưng, ít ai biết trước khi trở thành gương mặt nổi bật trên văn đàn, Kim Lân từng mang trong mình mặc cảm vì là con vợ lẽ, mẹ ông còn là dân ngụ cư từ Hải Phòng. Người con gái đầu của nhà văn là hoạ sĩ Nguyễn Thị Hiền từng chia sẻ:

“Sinh thời thầy tôi thường mang nhiều mặc cảm”

Nỗi tự ti ấy càng tăng lên khi ông bước vào độ tuổi trưởng thành, do phải lao động thường xuyên và ăn uống không đầy đủ nên cơ thể dần trở nên gầy gò, xấu xí. Bởi vậy mà dù có thầm mến hay yêu thích một ai, nhà văn cũng ngại ngần, không dám thổ lộ.

May sao, người bạn thân của Kim Lân là NSND Nguyễn Văn Bảy chịu làm mối cho ông với cô em gái ruột xinh xắn. Tuy được rẽ lối trước nhưng Kim Lân vẫn phải mất bốn năm theo đuổi, bà mới chịu gật đầu về làm vợ.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Nhà văn thường mặc cảm về thân phận và ngoại hình

Sau khi kết hôn và sinh con, gia đình Kim Lân vẫn gặp nhiều khó khăn về kinh tế nhưng ông tuyệt nhiên không coi viết lách là một nghề kiếm tiền. Bởi lẽ, chặng đường văn chương của tác giả tuy kéo dài hơn hai mươi năm nhưng số lượng tác phẩm của ông chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Trong buổi tọa đàm kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Kim Lân, nhà phê bình Lê Thanh Nghị cũng chia sẻ lý do tại sao ông viết ít, gác bút sớm nhưng vẫn được nhiều độc giả nhớ đến như sau:

“Sự lịch lãm của một ngòi bút yêu cái đẹp, yêu con người, luôn nhìn thấy ở con người khát vọng vươn tới” và cả vì đức tính khiêm nhường cùng sự thấm đẫm văn hóa làng quê của ông.”

Cũng tại lễ kỷ niệm này, phần đông ý kiến cho rằng Kim Lân là một “âm hưởng lạ” của văn chương Việt Nam thế kỷ XX. Tuy đóng góp không nhiều cho nền văn học nhưng tên tuổi vẫn sánh ngang với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, những tác giả có lượng tác phẩm đồ sộ.

Trong hơn hai thập kỷ sáng tác, Kim Lân chỉ viết truyện ngắn về nông thôn Bắc Bộ. Mỗi câu chuyện đều được nhà văn viết lại từ chính trải nghiệm của mình, đó có thể là những thú chơi dân dã như thả chim, đánh vật, chọi gà hoặc chỉ là tình làng xóm lúc nguy nan.

Nổi bật trong số ít tác phẩm đó phải kể đến Làng, câu chuyện về cuộc sống của ông Hai và gia đình tại nơi ngụ cư. Hằng ngày, trừ lúc cuốc đất làm rau thì cứ hễ lúc rảnh, ông lại sang nhà bác Thứ nói chuyện về làng Chợ Dầu.

Ông Hai mang trong mình một lòng yêu làng sâu sắc, chỉ cần đi đâu xa khỏi là ông sẽ mang chuyện mà mình biết, việc cùng anh em làm kể cho bằng hết. Thế nhưng, bi kịch nội tâm bắt đầu xảy ra khi có thông tin làng Chợ Dầu theo Tây, phản kháng chiến và phản cụ Hồ.

Chính những tình tiết như vậy đã khiến cho nhiều nhà văn cùng thời hoài nghi về tính cách mạng, động lực kháng chiến trong tác phẩm của Kim Lân. Nguyên Hồng, tác giả của những truyện ngắn nổi tiếng như Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấuCửa biển đã có lời nhận xét như sau:

“Từ giữa năm 1943 – 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim Lân. Thoạt nhiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy. … Nhưng rồi, chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át bợm bãi, trái lại nó có một cái gì chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau, giọng văn nhiều rung cảm thắm thiết, đặc biệt lại gần gũi với mình.”

Cuộc sống của người dân quê được ông viết bằng tất cả những xúc cảm chân thật, xuất phát từ sự am hiểu sâu sắc về cảnh ngộ, tâm lí của những người gắn bó tha thiết với quê hương và đất nước.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Làng là câu chuyện giữa ông Hai với mảnh đất và con người Chợ Dầu

Bên cạnh Làng,Vợ nhặt cũng là tác phẩm để đời của Kim Lân. Câu chuyện như được khoác lên hai lớp áo hiện thực và nhân đạo, con người bên ngoài bán rẻ tự trọng để có miếng ăn nhưng bên trong vẫn âm thầm ươm mầm cây dù chưa rõ ngày đơm hoa kết trái.

“Nhà văn dùng Vợ nhặt làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”.

– Nhà giáo Trần Đồng Minh

Thế nhưng, trong cái sự mơ hồ và vô định hình đó lại ánh lên tia sáng về hành trình mới. Những người nông dân mà đại diện là bà cụ Tứ, Tràng và thị đang hướng về cuộc sống mới, họ xuất phát từ việc làm nhỏ nhất như cùng làm lụng, cùng chung mâm cơm và cùng tin cụ Hồ.

Khi lòng tự trọng đứng bên bờ chết đói

Vợ nhặt được xây dựng dựa trên cốt truyện của Xóm ngụ cư, cuốn tiểu thuyết được Kim Lân viết ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công. Tuy nhiên do sự cố ngoài ý muốn, bản thảo Xóm ngụ cư bị thất lạc và phải mất gần mười năm mới được hoàn thành dưới dạng truyện ngắn.

Đến năm 1962, Vợ nhặt được đưa vào in trong tập Con chó xấu xí của Kim Lân. Câu chuyện tái hiện lại cuộc sống người nông dân và làng quê trong nạn đói 1945, độc giả qua đây phần nào có thể cảm nhận được tấm lòng cảm thông của nhà văn đối với đồng bào.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Tấm lòng của Kim Lân đối với người nông dân được thể hiện ngay từ những tình tiết đầu tiên, câu chuyện về mái ấm gia đình trong ngày đói tưởng chừng là giả tưởng lại diễn ra hết sức tự nhiên và chân thật.

“Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng…”

“Hắn” trong đoạn trích trên ý chỉ nhân vật Tràng, tuy đã đến tuổi xây dựng gia đình nhưng do tính cách có phần khờ khạo, nhà lại nghèo nên vẫn chưa lấy được vợ.

Thế nhưng, nhờ công việc chở xe thóc Liên đoàn lên tỉnh mà hắn gặp được vợ, nàng còn tình nguyện theo về nhà mà không mất thêm bất kỳ sính lễ nào ngoài bốn chặp bánh đúc.

Vợ Tràng thường được gọi là thị, không ai biết cô ả từ đâu đến và bao nhiêu tuổi, chỉ rõ hằng ngày thị cùng với mấy người con gái khác đứng vêu trên đường lên tỉnh để nhặt hạt rơi hạt vãi, đợi xem ai có công việc gì thì đến làm lấy tiền ăn qua ngày.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa nhân vật Tràng chở xe thóc Liên đoàn lên tỉnh

Hai con người đó bất ngờ lại dính lấy nhau sau một câu hò vu vơ, ý tứ cũng không cố tình trêu chọc hay cưa cẩm bất kỳ ai. Thế nhưng, xét cho cùng việc họ đến với nhau không phải vì mấy lời tầm phào hay đùn đẩy mà vì đói.

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”

Trong lúc kéo xe thóc lên dốc tỉnh, Tràng hò chơi một câu để thoát bớt cái nhọc chứ chẳng nghĩ sẽ có người chịu ra đẩy xe với mình. Bởi vì khi đó miếng ăn vừa hiếm vừa quý, khó có ai bằng lòng san sẻ mà nhất là những kẻ lao động nghèo như hắn.

Vậy mà thị dám đi ra phụ Tràng qua con dốc tỉnh, Kim Lân đã xây dựng một chi tiết thật lạ trong khung cảnh tối tăm và luẩn quẩn của làng quê Việt Nam bấy giờ. Con người vẫn có niềm tin với cuộc sống, xuất phát điểm của họ đơn giản chỉ từ việc giúp đỡ, đặt hi vọng vào đối phương.

Trước chi tiết nhân đạo như vậy, Kim Lân chưa vội làm bật lên tình người trong năm tháng khó khăn đó mà xây dựng thêm một tình huống khác. Sau khi đưa thóc xong, Tràng không rõ lí do bận chuyện gì mà không mời thị ăn để lần thứ hai gặp lại với cái mặt sưng sỉa.

Ban đầu lúc gặp lại, Tràng chưa nhận ngay ra thị vì quần áo tả tơi như tổ đỉa, người thì gầy sọp hẳn đi, nhất là gương mặt chỉ còn thấy hai con mắt. Chỉ cách vài ngày không gặp mà trông cô ả khác hoàn toàn, không chỉ ngoại hình mà còn là tính cách.

Thị không còn vui vẻ hay đon đả như hôm gặp đầu tiên nữa, gặp lại lần thứ hai cô ả thể hiện cái sự đỏng đảnh, ngoa ngoắt khi Tràng không giữ lời hứa. Thế mà sau đó ít phút, nàng ta lại thay đổi lộ rõ cái vẻ hớn hở vì được cho ăn thật.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Bên bờ cái chết con người làm mọi việc với hy vọng sống sót

Chi tiết thị thay đổi thái độ liên tục được Kim Lân sắp xếp rất khéo, bộc lộ rõ hiện thực của xã hội khi đó ép con người ta vào bước đường cùng, buộc phải vứt bỏ lòng tự trọng để đổi lấy miếng ăn qua ngày.

Hiện thực này đặc biệt thảm khốc khi đặt vào người phụ nữ ngày xưa, thị cũng từng biết lễ nghĩa và khuôn phép giống như bao người con gái cùng thời khác. Tuy nhiên, đức tính đó không may bị cảnh đói làm mai một, thị dần dần đánh mất chính mình. 

Nhất là lúc thị chủ động đến tìm Tràng để đòi công rồi ngồi xuống ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, khi ăn xong còn tiện tay cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng. Kim Lân viết ra một loạt các hành động của cô ả, độc giả chỉ cần tưởng tượng thôi cũng thấy được sự lỗ mãng và kệch cỡm

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Kim Lân thành công tái hiện sự nghèo đói trong Vợ nhặt

Sau khi ăn xong, Tràng lại buông tiếp một câu bông đùa mang ý bảo thị về nhà cùng mình. Đứng trước lời nói đó, không rõ thị thích người như hắn hay vì miếng ăn mà cô ả lần nữa làm theo.

“Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh chàng cũng chợn nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn chặc lưỡi một cái:

– Chặc, kệ!”

Đến đây, Kim Lân lại mở ra góc nhìn khác về câu chuyện, dẫu miếng ăn là thứ quan trọng nhưng điều sau cùng trong thâm tâm mỗi con người lại là mái ấm về gia đình, mong ngóng được hạnh phúc một lần trong đời.

“Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”

– Kim Lân

Tràng và thị chỉ là hai nhân vật đại diện cho đa số những người dân nghèo trong nạn đói, tuy công cuộc tìm kiếm kế sinh nhai còn gặp khó khăn và chật vật nhưng niềm tin về hạnh phúc cùng khát vọng về tương lai mới vẫn được thắp sáng.

Vợ nhặt và niềm khát khao về cuộc sống tốt đẹp

Trong hai lần nói tầm phơ tầm phào của Tràng, đa số độc giả sẽ bất ngờ với quyết định của thị và hành động của hắn. Cô ả luôn tin lời của chàng phu kéo xe thóc, quãng thời gian từ nghĩ cho đến làm cách nhau chỉ trong khoảnh khắc.

Bỏ qua lần gặp thứ nhất khi Tràng không kịp mời thị ăn do có công chuyện thì những lời hứa còn lại đều được hiện thực hoá, cho dù là tầm phào trong lúc làm việc. Hắn mời bù thị bữa bánh đúc, trước khi đưa về nhà còn mua cho cái thúng đựng đồ và dẫn vào hàng cơm đánh chén no nê.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa Tràng dẫn thị về nhà

Có lẽ từ giây phút thị chịu theo Tràng về nhà, hắn đã coi cô ả là vợ mình dù thực tế, hai người chẳng là gì của nhau. Cái người đàn ông thô kệch, có chút dở hơi đó dần hình thành được ý thức về gia đình riêng, mái ấm có vợ cùng con nhỏ.

“Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.”

Trước đấy, Tràng cũng có gia đình nhưng là sống chung với mẹ, tuy tình cảm mẹ con vẫn rất tốt nhưng đến nay hắn đã trưởng thành, muốn có riêng cho mình một mái ấm dù biết đây không phải chuyện dễ dàng.

Nhân vật nam được Kim Lân xây dựng dựa trên hình mẫu của người đàn ông ở làng quê Bắc Bộ, họ không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài mà cứ vậy cất giữ những nỗi trăn trở, tự mình tính toán cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

Không những vậy, nhà văn còn cho thấy được khả năng cân bằng mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình. Việc Tràng mang thị về nhà làm vợ, bà cụ Tứ không hề hay biết nên ngay khi bà về đến nhà, hắn liền giới thiệu:

“- Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…”

Hắn mượn duyên số của con người để giải thích với bà cụ Tứ, mặc nhiên không đề cập tới việc hai người quen nhau bởi miếng ăn hay thị là một kẻ không rõ tên tuổi và quá khứ.

Thế nhưng lời của Tràng vẫn không làm mẹ hắn vơi đi sự lo lắng, bởi lẽ bà cụ Tứ hiểu rõ tình cảnh của gia đình trong thời buổi hiện nay. Một ngày hai miệng ăn vốn còn chẳng nuôi nổi, bây giờ đèo bòng thêm liệu còn chống đỡ được hay không vẫn là ẩn số.

“Bà lão khẽ hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”

Bà cụ Tứ trăn trở về miếng ăn là vậy nhưng tuyệt nhiên không có bất kỳ một lời phản đối và trách móc nào, thậm chí trong suy nghĩ của mình bà còn vô thức lo lắng cho cả thị, người con dâu mới được nhặt về.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Bà cụ Tứ luôn âm thầm lo lắng và suy nghĩ cho các con

Còn về phần thị, từ lúc bắt đầu theo Tràng về nhà thì đã trở nên ít nói hẳn, cái nét sưng sỉa với chỏng lỏn trước đây biến mất hoàn toàn, cô ả dường như biến thành một con người hoàn toàn khác.

“Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh.”

Chắc rằng thị cũng mong muốn giống như Tràng và bà cụ Tứ là được sống tốt hơn, cô ả đang dần hoàn thiện sau quá trình tự huỷ hoại tính cách và phẩm giá của mình.

Sau đêm đầu tiên làm vợ Tràng, con dâu bà cụ Tứ thì thị bắt đầu làm việc nhà như quét sân, phơi quần áo, làm vườn rồi nấu cơm. Cảnh tượng đơn giản, thật bình thường này lại khiến hắn thấm thía cảm động, mường tượng ra tổ ấm sau này.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Nhân vật thị cũng mong ước về cuộc sống tốt đẹp hơn

Không chỉ có Tràng cảm thấy sự khác biệt này, bà cụ Tứ sau những ngày cau có thì nay cũng tươi tỉnh, nhẹ nhõm hơn. Bà lão xăm xắn thu dọn đồ đạc trong nhà cho sạch sẽ và gọn gàng hơn, trong bữa cơm bà cũng toàn nói về chuyện vui, sung sướng ở tương lai. 

“Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.”

Có thể thấy rằng, mối lo ngại về miếng ăn trong gia đình ba người giờ đây không còn to lớn nữa. Họ đã chuẩn bị tinh thần cho sự thay đổi, chấp nhận hy sinh và cố gắng từng ngày để tạo dựng một mái ấm đúng nghĩa.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Gia đình ba người dần học cách vun vén cuộc sống để tốt đẹp hơn

Với lối hành văn mộc mạc nhưng khác biệt trong quá trình khai thác chủ đề nông thôn, Kim Lân đã tạo nên tác phẩm Vợ nhặt ý nghĩa, giàu chất hiện thực cũng như thấm đượm tinh thần nhân đạo giữa những con người cùng khổ.

Bởi vậy, độc giả sau khi gấp lại trang sách cuối vẫn có thể cảm nhận được sức sống mạnh mẽ cùng ước vọng đơn sơ nơi làng quê trong thời kỳ kháng chiến, đồng thời thúc đẩy niềm tin về cuộc đời mới, tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn.

Loan Phương