Vợ nhặt là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Kim Lân, tác phẩm phản ánh chân thật hiện thực xã hội và con người ở nông thôn Việt Nam những năm 1945.

Cùng lối văn chương bình dị Kim Lân đã đưa người đọc đến gần hơn với tình cảnh thê thảm của nạn đói do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Qua những lời văn đó người đọc có thể cảm nhận được sự khao khát về mái ấm gia đình, tình yêu thương trong hoàn cảnh khó khăn.

Kim Lân vẽ Bắc Bộ bằng ngòi bút 

Kim Lân sinh năm 1920 ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và mất năm 2007 tại Hà Nội. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông chỉ học hết cấp một rồi đi làm thợ sơn guốc, lúc thì khắc tranh bình phòng, đồng thời ông cũng viết văn.

Khi sinh thời Kim Lân mang trong mình mặc cảm vì là con vợ lẽ, hơn thế mẹ ông người gốc ở Hải Phòng đến ngụ cư nên nỗi tự ti trong cậu bé ngày đó còn lớn hơn rất nhiều.

Sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng giàu mà gia đình khi đó còn nghèo, phải lao động thường xuyên và không được ăn uống đầy đủ nên người ông gầy gò xấu xí, bởi vậy dù có thích ai cũng không dám thổ lộ.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Ảnh nhà văn Kim Lân với nét mộc mạc

Năm 1944, nhà văn tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ như viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim nhằm phục vụ kháng chiến và cách mạng.

Nhà văn Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài chủ yếu là về nông thôn và người nông dân, cuộc sống tinh thần và vật chất của nơi đây cùng con người đều được ông lột tả chân thực qua từng câu chữ.

Những trang viết của nhà văn đều mang những nét đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đó là những thú chơi và sinh hoạt văn hóa cổ truyền như chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật hay chọi gà.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Vợ nhặt nằm trong tập truyện ngắn nổi tiếng của Kim Lân

Thành công ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật nhưng số tác phẩm của nhà văn Kim Lân lại không nhiều. Tập truyện ngắn nổi tiếng phải kể đến của ông là Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962), những tập truyện ngắn này đều được xếp vào hàng kinh điển văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX.

Cuộc sống và người dân quê được ông viết đầy chân thật, xúc động đều xuất phát từ sự am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của những người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng.

Nhà giáo Trần Đồng Minh đã có nhận xét về tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân như sau:

“Nhà văn dùng Vợ nhặt làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”.

Trong Vợ nhặt ta thấy được cuộc sống con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ sau cuộc chiến đầu giành độc lập với thực dân Pháp và phát xít Nhật. Thiếu thốn là vậy, Kim Lân vẫn cho người đọc nhìn được cái sự yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh và tài hoa của con người nơi đây.

Vợ nhặt là kết quả tự trọng bên bờ cái đói

Tên cũ của Vợ nhặt trước khi mất bản thảo là Xóm ngụ cư, tác phẩm được Kim Lân viết ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nhưng phải đến khi hòa bình lập lại vào năm 1954 thì mới hoàn thành.

Truyện ngắn được in trong tập Con chó xấu xí, với Vợ nhặt nhà văn Kim Lân tái hiện cuộc sống người dân trong nạn đói khủng khiếp 1945. Qua đây, người đọc có thể cảm nhận được tấm lòng của con người thời ấy và sự cảm thông của tác giả.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Trong những năm tháng khó khăn như vậy việc tự nuôi bản thân mình đã khó khăn huống chi đến nuôi người khác, có khi nghĩ đến nhưng cũng chưa chắc đã thành hiện thực.

Nhân vật Tràng chính là người như thế, việc hắn tự nuôi bản thân và mẹ già ở nhà còn không xong, chẳng dám nghĩ sẽ lấy được vợ dù cũng đã đến tuổi xây dựng gia đình. Ấy vậy mà cũng có người chịu lấy hắn.

 “Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng…”

– Vợ nhặt

Người lấy hắn thường được người ta gọi là thị, không ai rõ thị từ đâu đến chỉ biết hàng ngày thị cùng mấy người con gái khác ngồi vêu ra ở đường trên tỉnh. Đoán rằng ngồi đó nhặt hạt rơi hạt vãi hoặc đợi xem ai có công việc gì thì gọi đến làm lấy tiền ăn qua ngày, bằng không thì chết đói.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa nhân vật Tràng chở xe thóc Liên đoàn lên tỉnh

Tràng dạo gần đó có xe thóc cho Liên đoàn lên tỉnh, trong lúc kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh có hò chơi một câu cho thoát cái nhọc đi chứ cũng chẳng có ý chọc ghẹo hay cưa cẩm ai. Nào ngờ nhờ câu hò đó, hắn lấy được vợ.

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”

– Vợ nhặt

Nghe được câu hò ra đẩy xe bò là sẽ có cơm trắng với giò ăn thì đâu có ai đứng im được, mấy cô ả đứng bên đường cứ đẩy vai nhau nhưng duy nhất chỉ có thị ra đẩy xe bò cho Tràng.

Ngày hôm đó chẳng rõ lí do gì mà sau khi chở thóc Tràng không mời thị ăn, để đến lần thứ hai thị phải tìm đến với cái mặt sưng sỉa. Trông thị có mấy ngày không gặp mà gầy sọp hẳn đi, áo quần thì tả tơi như tổ đỉa, trên mặt chỉ còn thấy hai con mắt.

Ngày đói cái ăn được coi là quan trọng nhất, vứt cái tự trọng của mình đi mà đổi được cái ăn thì cũng đâu có là gì.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Bên bờ cái chết con người làm mọi việc với hy vọng sống sót

Thị là một người con gái thời xưa nên tính tự trọng không những có mà đặc biệt cao, đứng trên bờ chết đói giống như những cái xác chổng queo bên đường thị đã bỏ cái tự trọng của mình đi.

Cái nét sưng sỉa đến đòi bữa ăn của thị với Tràng thật lỗ mãng, trông không giống một người con gái chút nào. Rồi đến khi Tràng nói hôm nay cho ăn mà muốn ăn gì thì ăn, mắt thị sáng lên tức thì, thái độ liền thay đổi sang đon đả.

“Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở:

– Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố

Hắn cười:

– Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.”

– Vợ nhặt

Lần này sau khi thị ăn xong Tràng lại buông một câu bông đùa, không ngờ thị về cùng thật. Không rõ có phải thị thích người như hắn nhưng chắc rằng thị đi theo hắn về nhà vì miếng ăn, miếng ăn với thị lúc này vẫn là quan trọng.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Kim Lân thành công tái hiện sự nghèo đói trong Vợ nhặt

Nhà văn Kim Lân ngay đoạn mở đầu tác phẩm đã cho người đọc thấy được hiện thực xã hội lúc bấy giờ, tự trọng không mang lại cho con người cái ăn cái mặc, không mang lại hạnh phúc. Nói trần trụi hơn giữ tự trọng bằng với cái chết.

Hiện thực tàn khốc đến tột cùng, người phụ nữ phải rũ bỏ hết phẩm chất của mình để đổi lại được cái ăn và tia hy vọng sống sót.

Tác giả ở đây tuy cho thấy những nhìn nhận về hiện thực tàn khốc của con người, xã hội nhưng vẫn thể hiện được niềm tin, khát vọng được sống của người dân nghèo Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến kiến quốc.

Vợ nhặt cùng niềm khát khao về cuộc sống tốt đẹp

Trong cả hai lần buông câu bông đùa của Tràng người đọc sẽ nhận ra kết quả thị lựa chọn đều khiến hắn bất ngờ, hắn đều không nghĩ là thật nhưng luôn cố gắng hiện thực hóa điều mình đã nói ra.

“Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về…”

– Vợ nhặt

Lần đầu tiên khi thị ra đẩy xe bò với Tràng, ngay hôm đó hắn không cho thị ăn được nhưng hôm sau khi thị tìm đến đòi thì hắn liền đáp ứng. Lần thứ hai là ngay sau khi thị ăn liền hết bốn bát bánh đúc hắn mở lời kêu thị về nhà, không những đưa thị về nhà mà hắn còn sắm đồ rồi để thị được ăn no.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Hình ảnh minh họa Tràng dẫn thị về nhà

Nhân vật Tràng chính là đại diện điển hình của những người nông dân ở làng quê Bắc Bộ luôn hướng đến có một cuộc sống tốt đẹp.

Tràng là một nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch lại có thêm chút dở hơi, hắn chưa bao giờ nghĩ mình sẽ lấy được vợ nhưng không có nghĩa là không muốn có vợ. Có vợ rồi hắn lại muốn có cả con, gia đình có vợ chồng và con cái có lẽ là ước mơ bấy lâu nay của hắn.

“Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.”

– Vợ nhặt

Tràng mang thị về nhà hay nói cách khác là lấy thị làm vợ, người lo lắng về miếng cơm manh áo nhất có lẽ là bà cụ Tứ. Bà cụ Tứ là mẹ của hắn, chiều hôm đó khi trở về thì bà thấy có một người phụ nữ đang ngồi trong nhà, con trai bà thì cười bảo đây là vợ.

“Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. ”

– Vợ nhặt

Việc bà cụ Tứ suy nghĩ, lo lắng cũng là chuyện đương nhiên, bậc cha mẹ đối với con cái lúc nào chẳng hết mực yêu thương, đặc biệt lại trong cái cảnh nghèo đói và cái chết trước đây của người chồng và đứa con gái út.

Lo lắng, nghèo đói là vậy nhưng tuyệt nhiên không thấy bất kì một lời phản đối, trách móc nào, thậm chí vô thức trong suy nghĩ của mình bà còn lo lắng cho cả thị, người con dâu vừa mới được nhặt về.

“Bà lão khẽ hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”

– Vợ nhặt

Tràng, bà cụ Tứ đều cho người đọc cảm nhận được khát vọng về cuộc sống tươi đẹp trong hoàn cảnh khó khăn, không những thế hai nhân vật này còn là đại diện cho sự đùm bọc, yêu thương lẫn nhau của người nông dân Việt Nam.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Trong Vợ nhặt, bà cụ Tứ luôn âm thầm lo lắng và suy nghĩ cho các con

Với thị, sau khi về nhà với Tràng thì trở nên ít nói hơn hẳn, cái nét sưng sỉa, chỏng lỏn trước đây biến mất hoàn toàn, thị dường như trở thành một con người hoàn toàn khác.

“Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp. Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh.”

– Vợ nhặt

Giống như Tràng và bà cụ Tứ, thị cũng có ước muốn về cuộc sống tốt đẹp hơn sau quá trình tự phá hoại chính mình, thị dần thích nghi và tu dưỡng tâm tính.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Nhân vật thị cũng mong ước về cuộc sống tốt đẹp hơn

Trên pháp lý thị và Tràng chẳng có mối quan hệ nào, vợ chồng chỉ là danh nghĩa nhưng dường như sau một đêm thị đã coi nơi đây là nhà, thị muốn trở thành một người phụ nữ trong gia đình, cùng chồng cùng mẹ vun đắp cuộc sống cho sau này.

“Hình như ai nấy đều có ý nghĩa thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.”

– Vợ nhặt

Gia đình sống trong xóm ngụ cư hiện đã có ba người, sau này còn có thể tăng thêm nhưng có lẽ điều đó cũng không còn là nỗi lo lắng lớn nữa. Từng người sống dưới mái nhà này đều đang cố gắng thay đổi chính mình, cùng có suy nghĩ vun vén để xây dựng nên một mái ấm.

vợ nhặt, Vợ nhặt: Tình thương yêu con người bên bờ cái chết
Gia đình ba người dần học cách vun vén cuộc sống để tốt đẹp hơn

Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân chưa bao giờ làm cho độc giả cảm thấy thất vọng về câu từ, mọi thứ đều chân thực và bình dị đến lạ thường. Phải chăng bởi chính cái nét mộc mạc, đơn sơ, không cầu kì hoa mỹ đó đã làm cho con người ta cảm nhận thấm thía, sâu sắc hơn về cuộc sống năm tháng nghèo khó đó.

Loan Phương