Chống nạng lên đường ra mắt độc giả vào năm 1930, đây là tác phẩm đầu tiên được đăng trên Ngọ báo của Vũ Trọng Phụng. Trong truyện ngắn, tác giả tái hiện lại sự bất công của xã hội ngày trước một cách chân thực, xen lẫn hài hước và chế giễu khi lẽ phải bị những đồng tiền che lấp.

Tuy cùng lấy chủ đề đất nước nhưng Vũ Trọng Phụng vẫn có cách thể hiện khác biệt hơn so với Kim Lân, Ngô Tất Tố hay Nam Cao. Văn của ông mang đậm chất châm biếm và trào phúng, mở ra cái nhìn chân thực mà không kém phần hài hước về xã hội bấy giờ.

Trong Chống nạng lên đường, độc giả được trở về với những năm tháng kháng chiến chống Pháp qua góc nhìn của nhân vật Hai Xuân. Nỗi bất hạnh của những người nghèo khổ, sự phẫn nộ trước một xã hội đầy rẫy những kẻ cậy quyền, ỷ thế cứ vậy dâng lên.

Vũ Trọng Phụng cùng những áng văn châm biếm xã hội

Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội, ông là nhà văn và nhà báo nổi tiếng của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Tuy thời gian cầm bút không dài nhưng ông đã để lại kho tàng văn chương đồ sộ với bảy vở kịch, chín tiểu thuyết và hơn ba mươi truyện ngắn.

nha van vu trong phung e1620740763194 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Nhà văn Vũ Trọng Phụng

Ông may mắn được hưởng chế độ giáo dục mới do Toàn quyền Pháp Albert Sarraut đề xướng, cũng chính từ đây tác giả bắt đầu tiếp cận với tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ nhưng đến năm mười sáu tuổi thì phải nghỉ học, đi làm phụ mẹ chi trả sinh hoạt hằng ngày.

Cha mất khi bản thân mới bảy tháng tuổi, cuộc sống gia đình hoàn toàn đặt nặng trên vai mẹ nên Vũ Trọng Phụng cũng không lấy làm oán trách khi phải nghỉ học. Khi ấy, ông làm ở nhà hàng Gôđa và nhà in Viễn Đông, song song với việc truyền bá văn học được viết bằng chữ Quốc ngữ.

Làm việc ở các sở tư được hai năm, Vũ Trọng Phụng quyết định theo đuổi con đường làm báo và viết văn chuyên nghiệp. Ông dùng ngòi bút để cổ vũ kháng chiến, đồng thời phơi bày hiện thực đầy bi thương và ai oán của người dân nước ta thời bấy giờ.

tac pham Vu trong phung e1621258713592 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Vũ Trọng Phụng quyết định theo đuổi con đường viết văn chuyên nghiệp sau hai năm làm việc chân tay

Truyện ngắn đầu tiên của nhà văn là Chống nạng lên đường được đăng trên tờ Ngọ báo năm 1930, tuy nhiên không được nhiều độc giả chú ý. Phải đến ba năm sau, khi kỹ năng viết lách và đưa tin đã chín muồi thì Vũ Trọng Phụng mới nhận được sự quan tâm của công chúng qua phóng sự Cạm bẫy người trên báo Nhật Tân.

Việc tác phẩm được nhiều người biết đến đã thôi thúc Vũ Trọng Phụng hoạt động báo chí năng nổ hơn nữa, ông cho ra mắt hàng loạt phóng sự như Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Dân biểu và dân biểu, Vẽ nhọ bôi hề Một huyện ăn tết.

Nếu Kỹ nghệ lấy Tây viết về sự khuất phục của người phụ nữ trước đồng tiền, chấp nhận trở thành một sản phẩm của xã hội lai căng thời Pháp thuộc thì Cơm thầy cơm cô lại mở ra góc nhìn rộng hơn, Vũ Trọng Phụng đã nuôi tóc kiểu “Phi-lu-dốp” để điều tra nạn buôn người và nghề đi ở.

Một năm sau khi phóng sự Cơm thầy cơm cô được công bố, Vũ Trọng Phụng tiếp tục cho thấy hiện thực xã hội với những số liệu chuẩn xác và giọng văn đanh thép trong Lục xì. Độc giả được nhìn thấy bức tranh toàn cảnh về nghề thanh lâu ở đất Hà thành, cùng với đó là một chế độ mục ruỗng.

Nhà văn tiếp tục gây ấn tượng với phóng sự Một huyện ăn Tết, tác phẩm ra mắt công chúng vào năm 1938. Lần này, Vũ Trọng Phụng tiếp tục phơi bày hiện thực, ông đã viết về tệ nạn hối lộ, tham nhũng, móc túi dân đen của quan lại mỗi dịp Tết đến xuân về.

Việc không ngại lăn xả đã giúp Vũ Trọng Phụng được công chúng và giới chuyên môn công nhận là “ông vua phóng sự Bắc Kỳ”, mỗi câu văn của ông đều mang giọng điệu mới mẻ, tái hiện lại cuộc sống bằng những ngôn từ sắc sảo nhưng không kém phần hài hước.

tac pham khac cua vu trong phung e1621258772996 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Các tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Vũ Trọng Phụng

Thành công ở mảng phóng sự là vậy nhưng tác giả vẫn có niềm yêu thích đặc biệt với văn chương, ông muốn những câu chuyện của mình được độc giả chú ý đến nên đã bắt đầu viết lại. Đỉnh cao nhất là năm 1936, Vũ Trọng Phụng đã cho ra đời liên tiếp chuỗi tác phẩm Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ Làm đĩ.

Trong cả hai tiểu thuyết Giông tố Vỡ đê, Vũ Trọng Phụng đều tái hiện lại sự trâng tráo và tàn bạo của bọn thực dân quan lại trong những cuộc xét thẩm, cảnh kiếm chác trong những lần vỡ đê.

Những tên tay sai đã dựa vào đế quốc mà ban hành ra những chính sách vô lí, trực tiếp đẩy người dân vào thế cùng cực.

Tuy cùng ra mắt trong một năm nhưng hai thiên tiểu thuyết xuất bản sau lại được Vũ Trọng Phụng tiếp cận theo cách riêng, nếu Làm đĩ là tiếng nói thức tỉnh về vấn đề giáo dục giới tính thì Số đỏ lại lên án xã hội đang chạy theo lối sống văn minh rởm hết sức lố lăng đồi bại, bỏ quên những nền tảng truyền thống của văn hóa Việt Nam.

Ít ai biết rằng, trước khi được công nhận và lưu hành rộng rãi thì các tác phẩm của nhà văn từng vướng nhiều chỉ trích do lối viết quá chân thật khiến các thi sĩ ngày đó khó lòng thấu cảm. Nhà văn Nhất Linh và Thái Phỉ đã chê Vũ Trọng Phụng là “dâm ô”, văn chương của ông là “dâm uế”.

“Cái dâm tự nó không uế, nếu nó không loạn. Cái dâm của cặp vợ chồng chẳng hạn thì chỉ là sự thường như sự ăn uống, không có gì là uế tạp, nhơ bẩn mà lại còn là điều thanh cao, cao thượng nữa, song người ta không cần tả đến, vì nếu nói đến tất nhiên là khiêu dâm. Song còn những thứ dâm đãng gọi là uế, thí dụ hiếp dân, gian dâm, loạn luận, nghĩa là những thứ dâm của hạng nam nữa mà không là vợ chồng. Nhà văn sĩ tả chân có quyền và có bổn phận tả những điều ấy, mặc lòng đó là những thứ dâm uế tạp, nhơ bẩn; khi tả một cuộc dâm loạn bẩn thỉu, ô uế thì là đến chỗ hoàn toàn của nghệ thuật rồi.” – Vũ Trọng Phụng

Cái sự ô uế trong tác phẩm của ông là vụ hiếp dâm của một thiếu gia nhà giàu với cô gái quê nghèo, chính sách đàn áp tàn bạo của thực dân và quan lại với dân nghèo, cái sự rởm đời lại thêm lươn lẹo của giới thượng lưu thành thị hay mảnh đời liễu yếu đào tơ luôn bị người đời nói lời thô tục.

tac pham khac cua vu trong phung - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Một số tác phẩm khác của nhà văn Vũ Trọng Phụng

Trong các tác phẩm văn học và phóng sự, dù vướng phải chỉ trích nhưng Vũ Trọng Phụng chưa bao giờ từ bỏ sự tôn trọng con chữ hay sự thật của thời đại. Đây giống như kim chỉ nam trong viết lách của ông, xuyên suốt từ ngày đầu sáng tác cho đến những năm tháng cuối đời.

Chống nạng lên đường là minh chứng rõ nét nhất, tác phẩm tuy không nhận được sự phản hồi tích cực từ công chúng nhưng vẫn mang đậm nét hiện thực xã hội những năm ba mươi của thế kỷ trước.

Khi ấy, con người phải đấu tranh với cái nghèo và quyền thế, hai gánh nặng vẫn luôn chồng chất lên đôi vai nhỏ, thứ vốn chỉ tìm kiếm hạnh phúc giản đơn.

Dẫu phải làm công việc “ngựa người” đầy mệt nhọc, khi về chỉ được ăn hai bữa cơm với dưa muối nhưng Hai Xuân chưa bao giờ than vãn. Thậm chí, anh còn đỡ đần anh trai và phụ giúp bố mẹ già yếu.

Những tưởng cuộc đời sẽ luôn êm đềm, Hai Xuân bỗng chốc bị tước đi tất cả sau một vụ tai nạn xe. Anh chỉ nhận được câu trả lời “Mặc kệ” cho tất cả thắc mắc, những người nhà giàu chỉ đền cho Hai Xuân một chiếc chân gỗ và một chiếc nạng, mặc kệ cho tương lai của con người ấy trở nên tăm tối. 

Khi mầm cây yêu thương thiếu đất nảy mầm

Hai Xuân sinh ra trong một gia đình nghèo ở làng Gia Quất, huyện Gia Lâm. Bố mẹ đã già mà công việc của anh Cả không đủ nuôi gia đình nên ngày nào anh cũng chăm chỉ kéo xe cho mấy người nhà giàu, bất kể “lửa hạ chang chang” hay mưa phùn gió bấc.

Vất vả là thế nhưng người trong làng chưa bao giờ thấy Hai Xuân thôi vui vẻ, bữa cơm chỉ rặt cà, tương, dưa muối nhưng được ngồi ăn cùng gia đình cũng đủ làm kẻ phu kíp Gia Lâm hạnh phúc.

anh bia chong nang len duong e1621258821127 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Bìa trước truyện ngắn Chống nạng lên đường

Nét đơn thuần và vô tư đó nay đã bị nỗi buồn tủi thay thế, mất đi một chân đồng nghĩa với việc Hai Xuân phải bỏ nghề kéo xe. Kẻ nhà giàu đâm vào anh chẳng hề bồi thường hay mảy may chuyện thuốc thang, cứ thế biến một người từ mạnh khỏe thành vô dụng.

Những kẻ ỷ quyền, cậy thế mà lộng hành với dân nghèo, phép tắc tự nhiên chẳng thể nào bằng được lời nói của chúng. Bên trái sẽ thành bên phải và ngược lại, vậy nên việc không kiện Hai Xuân lại còn tặng thêm chiếc chân gỗ là đã rất rộng lượng rồi.

“Không đầy chục bạc mà bốn miệng ăn…! lại tiền thuê nhà, ấy là chưa kể đến những món vặt khác như áo, quần, củi lửa… tuy không để đem chôn vào bụng mà cũng cần như hạt muối, hạt gạo, gia đình nhà nó sống trong một cảnh túng bấn cực kỳ, chỉ hơn được ăn mày một nước là không phải ngửa tay xin lấy của ai.”

Cuộc sống gia đình theo đó mà phụ thuộc vào người anh trai, Hai Xuân và bố mẹ nhiều hôm phải bấm bụng để anh Cả làm về được ăn no. Nếu không, anh ta sẽ bắt đầu mắng bố, gắt mẹ, chửi nồi, chửi rế, chửi đôi guốc đang đi mà đứt quai, chửi xó nhà lắm muỗi vo vo như thể đang ám chỉ người em tàn tật của mình.

Hai Xuân cũng hiểu được ý tứ trong lời nói ấy, anh buồn nhưng chẳng biết giãi bày cùng ai nên chỉ đành chống nạng đi lang thang khắp làng. Có độ trời tối lắm rồi, bụng Hai Xuân cũng bắt đầu réo lên nhưng anh không dám về nhà vì sợ bắt gặp nét cau có trên mặt anh Cả.

Ấy vậy, khi đối diện với nét phồn thịnh của Hà Nội về đêm, một “thằng què” là Hai Xuân chẳng lấy làm thù hằn hay oán ghét những người qua đường. Anh vẫn giữ cho mình tấm lòng quảng đại, nhìn đời bằng con mắt lạc quan.

Những chi tiết này không khỏi khiến độc giả liên tưởng tới hai tác phẩm nổi tiếng của Kim Lân là Vợ nhặt và Làngvốn lấy bối cảnh ở vùng nông thôn Bắc Bộ với những thú vui bình dị và lòng người cũng đầy bao dung.

bi kich cua hai xuan khi bi anh trai va bo me tu bo e1621258860854 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Hai Xuân bị chính gia đình mình từ bỏ

Tuy nhiên, khi khắc họa cuộc sống người dân trong Chống nạng lên đường, Vũ Trọng Phụng lại không xây dựng mái ấm gia đình như Kim Lân. Ông sử dụng lối văn châm biếm để viết lên hiện thực cuộc sống, Hai Xuân không chỉ bị những kẻ giàu có khinh thường mà còn bị chính anh trai ruồng bỏ.

Vì miếng ăn hay nói đúng hơn là khao khát sống đã biến anh Cả trở nên ác độc, cha mẹ chấp nhận bỏ mặc đứa con què quặt cho xã hội mất nhân tính. Hai Xuân không oán trách gia đình, anh giải thích cho sự túng quẫn đó bằng những lá số.

“Còn nó nghèo, nó khổ, nó đổ là tại số. Tại số? Phải, những bộ óc rắn đặc như óc nó thì bao giờ lý hội sự ra đời cũng chỉ thấy toàn số, mệnh.”

Anh tự trách mình ra đời khi quỹ đạo chuyển xấu, không được sao tốt chiếu mệnh nên mới sinh ra trong một gia đình bị xã hội hắt hủi. Đến khi trưởng thành, vận đen vẫn đeo bám đến mức bị kẻ nhiều tiền làm cho què quặt, tước đi những hy vọng sống cuối cùng.

chong nang len duong dai bieu cho van chuong viet nam truoc cach mang thang tam e1621258896101 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Trích ý trong Chống nạng lên đường

Vậy nên, khi nhắc đến những áng văn hiện thực tiêu biểu cho xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám thì không thể không nhắc đến Chống nạng lên đường. Tác phẩm đã tái hiện lại một cách chân thực cuộc sống ngày đó, người dân nghèo bất lực khi tìm kiếm ánh sáng giữa màn đêm tối tăm.

Cái nghèo đã buộc Hai Xuân phải chống nạng lên đường

Khi còn làm nghề phu kíp, Hai Xuân không chỉ đối đầu với nắng mưa mà còn phải cẩn trọng với những ông tiểu tư bản. Mỗi khi anh khom lưng kéo là tiếng xe hơi lại vang lên inh ỏi, nhiều khi chúng còn ép anh và những người phu khác vào một bên để vượt lên trước.

“Những đoàn xe hơi bệ vệ mà không lịch sự, nối đuôi nhau, tiếng còi inh ỏi, sang sang, về về, dồn các bác phu xe ngửa ngực kéo, hớt hơ hớt hải chạy vào những chỗ tránh của họ, hình ảnh cái mãnh lực tuyệt đối của cơ khí bao giờ cũng chỉ lợi riêng cho một bọn.”

Để rồi, chính những kẻ bệ vệ đó đã dồn tương lai của anh chàng kéo xe vào đường cùng, khiến con người ấy phải đối đầu với vực thẳm tăm tối. Trên hành trình đó, Hai Xuân phải tự mình bước đi vì cha mẹ đã già, anh trai cũng chẳng mặn mà với kẻ tàn tật duy nhất trong gia đình.

hai xuan dan duoc goi la hai que e1621258920523 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Chống nạng lên đường đã cho độc giả thấy những kẻ dồn người khác vào bước đường cùng mà chẳng chút ăn năn

Việc bước đi một mình với chiếc nạng và chân gỗ càng chua xót hơn khi người trong làng, bạn bè bắt đầu gọi anh là Hai Què. Mỗi khi hai từ “thằng què” vang lên, Hai Xuân cảm thấy thân thể mình như bị xé ra, đau đớn và chua xót.

Từng là một thanh niên trai tráng, Hai Xuân rất khó để làm quen với tình trạng hiện tại của bản thân. Thế nhưng, anh ý thức được nếu mình còn ở nhà thì bố mẹ sẽ còn phải chịu khổ, anh Cả sẽ liên tục đay nghiến không thôi.

Ngồi trên chiếc cầu quen thuộc hàng ngày, Hai Xuân bắt đầu nghĩ về tấm thân tàn tật, không còn sức lao động của bản thân. Bất chợt, anh nhìn xuống chỗ sóng đang cuồn cuộn cơn lốc phía bên dưới, ý định tự tử loé lên nhưng khó lòng thực hiện được vì đấy chỉ là giấc mơ.

Đến khi tỉnh dậy, cơ sự không thành khiến chàng trai ấy rùng mình, bản năng đã thôi thúc anh đứng dậy để trở về gặp bố mẹ và anh trai. Dường như Hai Xuân vẫn mong đợi tình thương của gia đình, sự thông cảm đối với người con và người em vô tình rơi vào cảnh khổ mệnh.

“– Này tôi bảo thật, lần này là lần cuối cùng đấy… nếu cái thằng mặt chó ấy nó vác xác về đây thì cả ông cả bà liệu mà bảo nó đi đâu thì đi… biết chưa? Ông bà đã nghe chưa?… tôi chỉ có một bố thôi nhé!… Năm nay tôi ngót ba mươi tuổi đầu rồi mà chưa có vợ con gì cả, vẫn cô độc cô quả thế này vì những ai?… ông bà có biết không?”

Thế nhưng, tiếng quát tháo trong nhà của anh Cả đã kéo Hai Xuân trở về với thực tại. Anh thấy sợ trước những lời chửi rủa đó, trống ngực của kẻ què quặt chưa bao giờ đập mạnh đến thế, hơi thở còn khò khè ra cả lỗ mũi mà tưởng chừng người trong nhà có thể nghe thấy được.

Hai Xuân không dám bước chân vào trong nhà, anh quay gót liều bước trong đêm tối. Cảm xúc bấy giờ của chàng phu kíp tàn tật chỉ là nửa buồn nửa tủi chứ không có bất kỳ điều gì trách móc, nếu có thì cũng chỉ là những suy nghĩ oán giận vu vơ với lá số của đời mình.

Hai Xuân cứ mãi lần mò trong đêm tối, anh cứ đi cho đến lúc tìm được một gốc nhãn để đặt lưng nghỉ ngơi. Cái sự đêm nay tưởng chừng đến đó là kết thúc, vậy mà Hai Xuân tiếp tục phải đối đầu với cơn mưa bất ngờ, những giọt nước cứ thế hắt vào mặt, đầu, gáy và lưng.

mua khien con doi keo den e1621258944876 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Hai Xuân đã quyết định chống nạng lên đường để gia đình thoát cảnh khổ đau

Cơn mưa chẳng có tác dụng gì ngoài việc khiến cơ thể chàng trai ấy run bần bật, kéo theo cơn đói đã xuất hiện trong bụng từ lâu. Hai Xuân chẳng còn muốn cử động nữa, anh mệt rồi ngủ thiếp đi đến tận khi trời tờ mờ sáng.

Sau khi thức dậy, anh quyết định sẽ về nói chuyện với cha mẹ lần cuối trước khi chống nạng lên đường. Dẫu họ không quan tâm thì với Hai Xuân, đây vẫn là việc mà một người con cần làm với đấng sinh thành.

“Về đến nhà, nó dừng chân lại đứng ngẫm nghĩ. Chắc hẳn bây giờ thể nào anh Cả nó cũng ra ga rồi, trời chưa sáng rõ là vì có sương, nó vào bây giờ chỉ còn việc là lạy từ cha mẹ.”

Sau khi gặp cha mẹ, anh quyết định rời đi để không làm gánh nặng cho gia đình. Dù chưa biết về đâu, làm gì để sống nhưng chàng trai ấy vẫn thể hiện sự tự tin, chỉ mong những lo lắng đang bám víu trên hai thân thể già cỗi kia có thể vơi đi.

Sự bất lực của cha mẹ theo đó được Vũ Trọng Phụng khắc họa rõ nét, tuy là người bề trên nhưng vì cái đói và cái nghèo chi phối nên họ đã mất đi tiếng nói trong gia đình. Quyền quyết định giờ đây phụ thuộc hết vào anh Cả, người duy nhất có đủ khả năng lao động trong mái nhà này.

cuoc song tung quan trong chong nang len duong e1621258964542 - Chống nạng lên đường và hành trình mưu sinh bất đắc dĩ
Chống nạng lên đường đã khắc hoạ sự túng quẫn của người dân Bắc Bộ

Chống nạng lên đường chỉ là một trong số những tác phẩm được Vũ Trọng Phụng viết về sự khắc khổ của người dân Bắc Bộ. Câu chuyện phần nào chân thực hơn khi chính gia cảnh lẫn cuộc đời của nhà văn luôn ở trong tình trạng túng quẫn và cơ cực như Hai Xuân.

Khi bàn về tác phẩm, đã có một số độc giả bày tỏ sự cảm thương với Hai Xuân, một người con vì thương cha mẹ mà phải gạt nước mắt bỏ nhà bỏ cửa, chống nạng lên đường mưu sinh dù chưa biết cái nghèo cái khổ liệu có vơi đi hay vẫn còn lại mãi.

Nhà văn đã đem một phần cuộc đời của mình đặt vào Hai Xuân, một con người lương thiện nhưng vì cuộc đời kham khổ nên hy vọng sống cũng dần mất đi. Bản thân Vũ Trọng Phụng tuy tích cực viết nhưng ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình, về sau bệnh lao phổi đã khiến nhà văn yểu mệnh khi bản thân chưa tròn ba mươi.

Loan Phương