Nhiều nhà phê bình nhận xét Chế Lan Viên là ngôi sao sáng của nền văn học nghệ thuật hiện đại thế kỷ XX, ông ghi dấu ấn mạnh mẽ với phong cách sáng tác độc đáo, pha trộn giữa hiện thực và hư cấu.

Trong đó, Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường – Chim báo bão là các tập thơ mang đậm chất Chế Lan Viên. Dưới góc nhìn của thi nhân, độc giả cảm nhận được nỗi niềm cũng như vẻ đẹp của quê hương, đất nước trong năm tháng kháng chiến.

Đôi nét về cuộc đời của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, ông sinh năm 1920 tại Quảng Trị. Nhà thơ chỉ theo học hết cấp hai rồi bắt đầu đi dạy ngoài để trang trải cuộc sống.

che lan vien hinh anh 4 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Chế Lan Viên bắt đầu dạy riêng sau khi tốt nghiệp cấp hai

Năm mười bảy tuổi, chàng trai Phan Ngọc Hoan xuất bản tập thơ đầu tay Điêu tàn với bút danh Chế Lan Viên. Tác phẩm là lời tuyên ngôn nghệ thuật của Trường Thơ Loạn, giúp ông vụt sáng trên thi đàn Việt Nam.

Mang “niềm kinh dị” vào văn chương nên Chế Lan Viên được thế hệ đương thời đặt cạnh một số tác gia như Hàn Mặc Tử, Yến Lan và Quách Tấn. Họ gọi nhóm nhà thơ này là “Bàn thành tứ hữu”, tức bốn người bạn ở thành Đô Bàn.

“Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người mơ, Người say, Người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tỉnh, là Yêu, nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai.” – Chế Lan Viên

Từ năm 1939 đến năm 1942, Chế Lan Viên thường xuyên ra Bắc vào Nam để học tập và làm việc. Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, ông tham gia các phong trào chống thực dân Pháp ở Bình Định và Thừa Thiên – Huế.

Khoảng thời gian này, ông viết bài và biên tập cho các tờ báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Ngoài ra, Chế Lan Viên còn tham gia Đoàn xây dựng cùng Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư và Đào Duy Anh.

Tham gia các chiến dịch trên không chỉ giúp Chế Lan Viên thành công gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương mà còn thay đổi phong cách sáng tác, chuyển từ thần bí, bế tắc sang hào hùng, đậm chất chính luận.

che lan vien hinh anh 5 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 29 tuổi

Từ năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm công tác tuyên truyền. Tại đây, ông đảm nhiệm chức vụ Biên tập viên báo Văn học, làm việc tại phòng Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương, Uỷ viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam và Uỷ viên Ban Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.

Ngoài hoạt động nghệ thuật, ông còn là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá IV, V và VI. Đồng thời là Uỷ viên Ban Văn hoá – Giáo dục Quốc hội, tác phẩm của Chế Lan Viên vì thế mang đậm chất nhân văn, hướng nhân dân tin vào ánh sáng, lý tưởng của Đảng.

Sau khi lãnh thổ toàn vẹn, nhà văn chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Giai đoạn này, ông vừa giữ vững quan điểm văn học phản ánh hiện thực, vừa dung hòa với thời đại nhằm góp sức vào bước chuyển mình của đất nước.

Thế nhưng, bệnh tật khiến ông không thể hoàn thành tâm nguyện tốt đẹp đó. Chế Lan Viên trút hơi thở cuối cùng vào tháng Sáu năm 1989 tại Bệnh viện Thống Nhất, hưởng thọ 68 tuổi.

Chế Lan viên và chất tình ca chứa “niềm kinh dị”

Trước khi bén duyên với thi ca cách mạng, Chế Lan Viên được biết đến là nhà thơ trữ tình, phong cách đậm chất hư vô, bế tắc và lạc lối. Bởi vậy, sáng tác của ông không chân thuần như Xuân Diệu, ngập ngừng giống Hồ Dzếnh hay tan tác tựa Thái Can.

Thơ Chế Lan Viên mang sự vững vàng và linh hoạt của Nguyễn Trãi, cùng với đó là chất hàm ngôn, thâm thuý trong văn chương Trần Tế Xương. Từ đó tạo ra một bản thể riêng biệt và độc đáo, không gian gắn với nhân vật trữ tình trở nên hiện hữu và vĩnh cửu.

che lan vien hinh anh 2 e1633021188669 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Chế Lan Viên gắn không gian với chủ thể trữ tình

Điêu tàn là tập thơ thể hiện rõ lối tư duy bí bách của Chế Lan Viên, ông tập trung khắc hoạ nỗi buồn, tiếng khóc than và sự nhớ nhung về vương quốc Chiêm Thành xưa. Độc giả như bước vào một thế giới đau thương, hình ảnh xuất hiện trước mắt chỉ toàn đầu lâu, máu xương và hồn ma.

“Nền giấy trắng như xương trong bãi chém

Bỗng run lên kinh hãi, dưới tay điên

Tiếng búa đưa rợn mình như tiếng kiếm

Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng

 

Và hồn, máu, óc tim, trong suối mực

Đua nhau trào lên giấy khúc buồn thương

Nhưng không gian lùa vào ta chẳng dứt

Những hương mơ say đắm mộng ngông cuồng” – Tiết Trinh

Tiết trinh nằm trong tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên, phát hành năm 1937. Tác phẩm vẽ ra khung cảnh Tháp Chàm đơn độc lẫn sự mờ ảo, nhà văn đã dùng thi ca để bày tỏ tấm lòng với những vong hồn vất vưởng.

che lan vien hinh anh 10 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Độc giả được chứng kiến khung cảnh Tháp Chàm hư vô và đơn độc

Không chỉ mang tương giao và tâm linh vào thi ca, ông còn đem chúng vào văn xuôi mà điển hình là Vàng sao. Tập truyện được xuất bản vào năm 1942, ví như lời tuyên ngôn tiếp theo khi Chế Lan Viên làm rõ quan điểm tượng trưng trong sáng tác và xây dựng thế giới nghệ thuật tương ứng.

Những quan niệm siêu hình và vô thực dần bị thay thế, chủ đề sáng tác của nhà văn hướng tới những điều bình thường. Tuy nhiên, sự đơn giản ấy vẫn mang nét độc đáo khi kết hợp giữa nhịp điệu ca dao và chất hào hùng cách mạng.

“Khi đã làm thơ thì không phải chỉ làm thơ chính trị (poème revolutionnaire) mà cả thơ tình (poème d’amour). Tiếp đến, ông còn nhấn mạnh: “Thơ tình, thơ về hoa, về cuộc đời bình thường rất cần thiết. Cần núi cao (haute montagne) của chủ nghĩa anh hùng (heroisme) nhưng cần các đồng bằng (plaine) của đời sống hằng ngày (quotidienne).” – Chế Lan Viên

Tình ca ban mai được rút từ tập Ánh sáng và phù sa (1960) cũng lấy cái vốn có là thời gian để làm bật nỗi thương nhớ, dùng cá nhân cụ thể miêu tả sự trừu tượng. Từ đó dẫn dắt độc giả vào chốn thơ ca, ngập tràn khát khao hạnh phúc nhưng cũng đau đáu, day dứt.

Bài thơ được ví như bản nhạc có giai điệu ngọt ngào, gợi sự sâu lắng, dịu ngọt và êm đềm trong tình yêu. Nhân vật em là chủ thể của Tình ca ban mai, mỗi bước đi là cảnh vật thay màu đổi sắc, nhịp sống xung quanh vì thế mà “thiên biến vạn hoá”.

“Em đi, như chiều đi

Gọi chim vườn bay hết

Em về, tựa mai về

Rừng non xanh lộc biếc” – Tình ca ban mai

Giọng văn trong trẻo, tựa ánh sáng mỗi sớm mai đã xua tan những hình ảnh kinh dị, gây ám ảnh nơi Tháp Chàm. Không còn đầu lâu hay bóng ma, Chế Lan Viên mang đến sức sống của rừng xanh, lộc non và nắng vàng.

Sự thay đổi này xuất phát từ việc nhà văn tham gia vào công tác cách mạng, hoạt động năng nổ dưới sự chỉ dẫn của Đảng cộng sản. Những năm tháng chiến đấu, gắn bó với người dân ở nhiều vùng miền đã thức tỉnh Chế Lan Viên, kéo tâm hồn ông thoát khỏi cảnh tang tóc.

Không vì thế mà văn chương Chế Lan Viên chỉ một màu xanh rừng núi hay vàng ruộm nắng trời. Nhà văn vẫn mượn thiên nhiên để viết về tình yêu nhưng lạnh giá hơn, cơn gió mùa Đông Bắc được ông nhân hoá thành biểu tượng của nhớ thương.

“Từ lúc em ra đi, hai lần gió mùa đông bắc thổi qua phòng

Lần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt

Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa không sợ giặc

Chỉ sợ lòng mình, ai sợ gió mùa đông.” – Gió mùa đông bắc

Gió mùa đông bắc nằm trong tập Hái theo mùa (1977), viết về những tội ác của chế độ thực dân với đất nước và con người Việt Nam. Chế Lan Viên thể hiện sự thương xót trước khung cảnh hoang dại, âm thanh toàn tiếng súng đạn, bầu trời xuất hiện “trăm nghìn pháo tầm cao tầm thấp”.

Cơ cực nhưng nhà văn vẫn thể hiện sự hào hùng, dũng mãnh của toàn dân, toàn Đảng. Họ không sợ giặc vì nơi đỉnh Trường Sơn tối vẫn thấy ánh đèn le lói, bởi vậy con người mới đồng lòng đấu tranh suốt ba mươi năm ròng rã.

Thơ tình Chế Lan Viên không chỉ đa dạng thể loại mà còn phong phú trong cách diễn đạt, ẩn dưới lớp đau thương do chiến tranh là chất thi vị đầy màu sắc. Hình ảnh của cây, nắng, bể, sóng và mây xuất hiện liên tục, đan xen với cung bậc cảm xúc của cá nhân.

Những áng thơ đậm chất chính luận

Là nhà hoạt động cách mạng nên từ sớm, văn chương Chế Lan Viên cũng mang đậm màu sắc triết lý và triết luận. 

Từ khi gắn cuộc đời với Đảng, đất nước và nhân dân, ông đã cho ra đời nhiều tập thơ có tư tưởng tiến bộ như Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường – Chim báo bão Những bài thơ đánh giặc.

che lan vien hinh anh 3 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Tác phẩm của nhà thơ mang đậm tính chính luận và triết lý

Cách mạng tháng Tám thành công, không chỉ đời sống nhân dân thay đổi mà tư tưởng các nhà làm công tác văn hoá và tuyên truyền cũng chuyển biến rõ rệt. Tháng ngày cán bộ, cụ thể là khi Chế Lan Viên xuống đường với quần chúng đã khai sáng ông.

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” – Tiếng hát con tàu

Đoạn trích nằm trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, rút từ tập Ánh sáng và phù sa, in năm 1960. Tác phẩm lấy cảm hứng từ chủ trương lớn của Nhà nước, họ vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế vùng núi những năm 1958 – 1960 ở Bắc Bộ.

Ngay từ nhan đề, nhà văn đã thể hiện tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lý tưởng và đường lối mà Đảng đề ra. Trong đó, con tàu biểu trưng cho khát vọng lớn và hướng đến cuộc sống mới, tiếng hát là sự say sưa của tâm hồn khi tìm thấy ánh sáng.

Khổ thơ trên bày tỏ sự vui mừng, hạnh phúc của nhân vật trữ tình khi gặp lại nhân dân, những người như anh em trong gia đình. Ngoài nội dung ý nghĩa, Chế Lan Viên còn lồng vào đó nghệ thuật so sánh và liên tưởng phong phú, ví con người như chú nai hiền lành, luôn tìm về cội nguồn.

che lan vien hinh anh 9 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Chế Lan Viên lồng ghép nghệ thuật so sánh và liên tưởng phong phú

Do có giá trị nội dung lẫn nghệ thuật nên Tiếng hát con tàu đã được Bộ Giáo dục Đào tạo đưa vào sách Ngữ văn 12, hành trang đầu đời cho các sĩ tử. Từ đó khẳng định nỗ lực vươn lên, thay đổi cảm hứng và chất liệu sáng tác của Chế Lan Viên.

Trước khi được công nhận là lá cờ tiên phong cho thơ ca cách mạng, ông cũng trải qua nhiều lần lạc lối. Điều này khiến Chế Lan Viên không khỏi hối hận và tự trách, trong Ngoảnh lại mười lăm năm có đoạn:

 “Thế rồi Cách mạng về

Cờ hồng bay cả nước

Cờ hồng anh báo trước

Ở lời thơ xưa kia

Cờ trên triệu mái tranh

Nuôi Đảng ngày bí mật

Trên cổng phủ, trên thành

Hôm qua còn sấp mặt

Trên cả tháp siêu hình

Thơ tôi về ẩn nấp

Nay dậy hồn dân tộc

(Trời xanh thành thuốc độc)

Đập nát buồn trời xanh…

Chỉ khi dấn thân vào công cuộc đấu tranh, giành độc lập dân tộc thì thơ Chế Lan Viên mới thoát khỏi tư tưởng siêu hình, định vị được bản thân. Độc giả cũng không còn thấy ông thốt lên “ôi, con đường vô danh!” nữa, thay vào đó là lời khẳng định “tôi làm chủ hồn tôi”.

che lan vien hinh anh 8 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Nhà thơ khẳng định bản thân sẽ làm chủ hồn mình

Sau năm 1945, tác giả còn ghi dấu ấn với Hoa ngày thường – Chim báo bão. Tập thơ gồm 49 bài, Chế Lan Viên đã dùng chất liệu quen thuộc và đời thường như cái hầm chông, hình ảnh bà mẹ Việt Nam và địa điểm lịch sử để đưa vào tác phẩm.

Trong số đó, quen thuộc nhất với độc giả là Con cò, tác phẩm mượn hình ảnh loài chim họ Hạc để gợi khung cảnh làng quê nước ta. Đồng thời, lồng ghép chất thơ của ca dao dân tộc bao đời nay.

“Dù ở gần con

Dù ở xa con

Lên rừng xuống bể

Cò sẽ tìm con

Cò mãi yêu con

Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” – Con cò

Từ hình ảnh con cò, Chế Lan Viên gợi quang cảnh quen thuộc và chất thi ca lâu đời, đồng thời ca ngợi tình mẫu tử. Loài chim này như chiếc gương soi chiếu cuộc đời lam lũ của mẹ, người một lòng dõi theo con đến hết cuộc đời.

Khi xác định rõ con đường bản thân sẽ bước đi, thống nhất được nội dung và nghệ thuật thì Chế Lan Viên đã thoải mái bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc cá nhân. Ông dùng ý thơ trữ tình để làm bật lên tính chính luận, hiện thực của thời cuộc.

Những năm tháng kháng chiến, người phụ nữ nơi hậu phương vô cùng vất vả khi vừa săn sóc con cái, vừa canh tác ruộng đồng. Vì thế, tiếng hát ru yêu thương là nỗ lực của mẹ, cố gắng mang sự thanh bình vào giấc ngủ cho con.

Thông qua tác phẩm, độc giả nhận thấy bản lĩnh của Chế Lan Viên khi dám thay đổi tư duy và phong cách văn chương. Ông cách tân chính mình, sáng tạo từ quan niệm đến hoạt động sáng tác để phù hợp với thực tiễn, phản ánh chân thực xã hội và lịch sử.

Giới chuyên môn nhận xét về thơ ca Chế Lan Viên

Hơn nửa thế kỷ hoạt động trong thi đàn Việt Nam, Chế Lan Viên luôn phấn đấu khẳng định bản thân. Ông dùng tác phẩm để tuyên ngôn, chứng minh nỗ lực cống hiến cho nền văn học nước nhà.

Dù chìm đắm trong Trường Thơ Loạn hay cải cách với lý tưởng Đảng thì ông vẫn là ngôi sao sáng, một nhà văn và chiến sĩ cách mạng hàng đầu. Điều này được nhiều nhà phê bình và báo chí công nhận, trở thành trường hợp hiếm có và độc đáo.

che lan vien hinh anh 6 - Chế Lan Viên: “Kiện tướng” của phong trào Thơ mới
Chế Lan Viên được nhiều nhà phê bình và nhà nghiên cứu văn học đánh giá cao

Khi nhắc đến tác giả Tiếng con tàu, nhà nghiên cứu văn học hiện đại Phong Lê đánh giá Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới, là người mở ra thời kỳ hiện đại cho thơ ca Việt, dẫn lối cho thế hệ sau trưởng thành.

“Thơ Chế Lan Viên giàu triết lý, không phải thứ triết lý sách vở, nói cho sang, mà là thứ triết lý ông vịn vào để sống, để giải quyết việc đời, để ứng xử với đồng loại, nó là kinh nghiệm sống của đời, nó ấm như hơi thở của ông…” – Vũ Quần Phương

Bàn về thơ Chế Lan Viên, giới chuyên môn nhận xét phong cách của ông riêng biệt và độc đáo, chứa nguồn năng lượng trí tuệ đỉnh cao. Nhờ vậy, mọi sắc màu và hơi thở cuộc sống được phản ánh rõ nét, mang đến cho độc giả nhiều tác phẩm hay, giàu ý nghĩa.

Giai đoạn 1960 – 1975, nhà thơ thường viết về vị lãnh tụ đáng kính và tổ quốc. Tác phẩm của ông vì thế được so sánh như tiếng reo vui của thời đại, tiêu biểu là Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?.

Bài thơ nằm trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão, thể hiện nhiều ý tưởng mới lạ khi khẳng định sức sống và bản lĩnh con người. Tác phẩm là một trong số ít bài thơ đứng ở đỉnh cao văn học chống Mỹ, khơi gợi vẻ đẹp tiềm tàng của dân tộc.

“Nếu tất cả các nhà thơ còn lại là sự thăng hoa của tâm hồn thì Chế Lan Viên là sự thăng hoa của trí tuệ; nếu các nhà thơ còn lại rung động trữ tình thì Chế Lan Viên là đanh thép của chính luận; nếu các nhà thơ còn lại là ru ca, tình ca, thì Chế Lan Viên là tráng ca, hùng ca. Chế Lan Viên không chỉ bổ sung cho thơ ca những bài thơ hay, tập thơ hay mà ông bổ sung cho thơ ca một từ trường, cấu trúc của nền thơ đất nước theo nghĩa chiến lược. Chế Lan Viên có công rất lớn mở rộng không gian của thơ. Thơ ông có nhiều tầng văn hóa.” – Hữu Thỉnh

Thơ ca Chế Lan Viên giai đoạn chống Mỹ đã khắc họa rõ nét tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam, cả dân tộc đồng lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ông khéo léo kết hợp giữa chất chính luận hào sảng với trữ tình dạt dào, tạo nên sự độc đáo hiếm có.

Nhờ tài hoa vốn có, ý chí phi thường và chấp nhận cải tạo, Chế Lan Viên đã để lại kho tàng thơ lớn cho hậu thế. Độc giả từ đó thấy được sự gắn bó sâu sắc, bền chặt của ông với nhân dân và đất nước.

Loan Phương