Nhắc đến văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 có sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới với các gương mặt nổi bật như Xuân Diệu, Huy Cận hay Nguyễn Bính. Bên cạnh đó không thể bỏ qua Thế Lữ, một trong những cây bút góp phần mở ra “một thời đại trong thi ca” nước nhà.

Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Thế Lữ

Thế Lữ có tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh năm 1907, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ lúc nhỏ, ông phải rời xa mẹ, sống với vợ chính thức của cha vì gia đình bên nội không chấp thuận bà.

Cha ông làm viên chức ở tuyến đường sắt Lạng Sơn – Thanh Hóa nên thường xuyên đi vắng nên trong suốt mười năm tuổi thơ ấy, Thế Lữ luôn buồn vì nhớ mẹ và phải sống trong cảnh mặc cảm, cô đơn, không có ai bầu bạn.

“Ở Lạng Sơn, tôi sống trong tình thương nhớ. Khi mợ tôi lên thăm, rồi trở về, tôi nhỏ quá, thấy tàu chạy, lấy tay sờ vào đường sắt, nghĩ rằng sự đụng tay sẽ truyền đi theo với mẹ. Khi sinh tôi ra, thì mẹ tôi còn ở Hà Nội, bà buôn hàng tơ.”

– Xuân Diệu viết lại những lời của Thế Lữ công bố trên báo Văn nghệ

Chính xứ núi rừng Lạng Sơn, nơi tràn đầy những câu chuyện huyễn hoặc và bí ẩn đã trở thành chất liệu để Thế Lữ sử dụng trong các tác phẩm văn xuôi của ông sau này. Có thể kể đến như Bên đường Thiên Lôi, Gió trăng ngàn hay Trại Bồ Tùng Linh.

Lúc tác giả lên mười tuổi thì anh trai qua đời, khi đó ông vừa về Hải Phòng ở với mẹ và bà đã đổi tên khai sinh của Thế Lữ thành Nguyễn Đình Lễ. Tuy nhiên, sau này khi cầm bút, nhà văn vẫn sử dụng tên cũ để làm bút danh cho mình.

the lu hinh anh 1 e1632565365540 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Chân dùng nhà văn Thế Lữ

Năm mười bảy tuổi, Thế Lữ lập gia đình rồi học Sơ học và Thành chung. Trong khoảng thời gian này, ông chịu tác động mạnh mẽ từ các thầy giáo như Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Hữu Tảo về các phong trào yêu nước của nhân dân.

Năm 1929, ông vào Hà Nội thi đỗ bàng thính tự do trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhưng chỉ được một thời gian thì bỏ. Tại đây, Thế Lữ kết thân với Vũ Đình Liên và một số người bạn khác, cùng nhau lập nên Salon Littéraire, chuyên viết văn quốc ngữ, dịch sách.

Không dừng lại ở đó, nhà văn bắt đầu viết rồi gửi Một truyện báo thù ghê gớmTiếng hú hồn mụ Ké, hai tác phẩm đầu tay của mình đến nhà xuất bản Tân Dân, với bút danh là Đào Thị Tô cùng viết với Thế Lữ.

Thời gian tiếp theo, ông thử mình ở thể loại kịch nói và chắp bút cho bài thơ nổi tiếng là Nhớ rừng. Năm 1930, Thế Lữ được mời làm việc cho tờ Phong Hóa, Ngày Nay với vai trò là nhà phê bình văn học, sau đó tham gia góp phần sáng lập văn phái Tự lực văn đoàn.

Nếu Thạch Lam hay Khái Hưng chỉ tập trung duy nhất một mảng là truyện ngắn thì Thế Lữ lại khác. Là người tiên phong duy nhất trong Tự lực văn đoàn, ông đào sâu vào thơ trữ tình, kịch nói sân khấu và văn xuôi, ba thể loại rường cột của văn học nghệ thuật nước nhà.

Phong cách sáng tác của Thế Lữ trước năm 1945

Từ buổi đầu thành lập tờ Phong hóa bộ mới, Thế Lữ nhanh chóng gửi bài thơ là Con người vớ vẩn và được đăng trên số Tết, năm 1933. Sau này, Nhất Linh nhận ra được tài năng của ông nên đã mời nhà văn đến làm việc ở tòa báo cũng như tham gia vào các hoạt động khác.

Bảy năm (1933 – 1941) kể từ khi hoạt động, Thế Lữ chỉ có duy nhất một tập thơ là Mấy vần thơ sau này được bổ sung rồi chuyển thành Mấy vần thơ Tập mới, đây được xem như cột mốc đánh dấu cho chặng đường khai sinh và phát triển cho thời đại thi ca của nước nhà.

Có ý kiến cho rằng, hiện thực đời sống chính là nhân tố làm nảy sinh một nền văn học nhất định. Theo đó có thể thấy được, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Việt Nam vốn dĩ là đất nước phong kiến nay đã đủ mọi yếu tố để bắt đầu các bước tiến mới, tạo tiền đề cho sự ra đời của những cây bút hiện đại.

the lu hinh anh 2 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Nhà văn Thế Lữ (người thứ nhất từ bên trái qua) và bạn

Làn sóng phương Tây du nhập vào Việt Nam không chỉ giúp cho nền văn học nước nhà có sự vận động mạnh mẽ mà còn là nguyên nhân dẫn đến việc ra đời của phong trào thơ Mới, cuộc đổi mới được ghi dấu vào lịch sử với những gương mặt nổi bật và ưu tú nhất. 

Trước năm 1932, Tản Đà đã tạo ra hình hài cho thơ Mới, người là “gạch nối” giữa hai thời đại trong thi ca. Để rồi, khi Phan Khôi cho ra mắt Tình già cùng bài giới thiệu Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ, sự kiện này được xem như tiếng súng mở đầu cho cuộc vận động sôi nổi của phong trào thơ Mới.

Thế Lữ, một trong những cây bút trụ cột chính tại tờ Phong Hóa cùng Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên hay Phạm Huy Thông đã hô hào công kích tuyệt đối lối viết cũ, bãi bỏ niêm, luật, điển tích và khi Nhớ rừng ra đời, thì phần thắng đã nghiêng về thơ Mới trong cuộc đấu tranh với thơ cũ.

Ông theo đuổi quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, luôn ý thức được chủ thế sáng tạo bắt nguồn từ việc đổi thay nhanh chóng của thế sự, từ đó chủ trương trong văn thơ phải có xúc cảm, cái tôi cá nhân, điểm mới và góc nhìn chân thực.

Nhớ rừng thuộc tập Mấy vần thơ, được sáng tác vào năm 1935, đây là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn đầu của phong trào thơ Mới. Thông qua điểm nhìn của một con hổ, Thế Lữ đã thành công đem đến dư vị mới trong văn chương đồng thời phản ánh thế cuộc lúc bấy giờ.

Con hổ nhớ rừng trong bài thơ chính là đại diện cho người dân Việt Nam trong hoàn cảnh nước mất nhà tan. Thế Lữ hướng đến niềm khát vọng tự do chính đáng, để từ đó nói lên lòng tự tôn dân tộc và sự bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản.

the lu hinh anh 3 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Thế Lữ thời kỳ chống Pháp qua ống kính của Trần Văn Lưu

Đúng với ý nghĩa của bút danh “người khách đi qua trần thế”, nhà văn luôn nhận thức được cái mới mà nhân dân muốn có, để rồi tích lũy cho riêng mình những quan niệm sáng tác riêng biệt.

Đó là sự sáng tạo về mặt nội dung lẫn nghệ thuật, bởi lẽ ông cho rằng, những nhà thơ Mới không thể giống Tản Đà mà cái tôi cá nhân phải luôn được đề cao. Họ có nhiều nỗi đau phải chịu đựng và cũng lắm niềm vui phi thường nên mỗi trang viết mang tên Thế Lữ đều tràn đầy vẻ đẹp trữ tình.

Mỗi xúc cảm như vui, buồn, cô đơn hay chán nản đều có căn nguyên từ cuộc sống, những cây bút mới đã không ngần ngại mà bộc bạch, tâm tình thổ lộ bằng cách thể hiện một trạng thái sống với đa dạng hình hài và Thế Lữ cũng không ngoại lệ.

Ông có những bài thơ nổi tiếng như Cây đàn muôn điệuThức giấc, Tự trào, Mộng ảnh hay Bâng khuâng. Tất cả đều thể hiện được những rung động vận hành theo quỹ đạo của cái đẹp, dù tuyệt vọng, chán nản nhưng vẫn thắp lên một tương lai tươi sáng, đầy hy vọng và ước mơ.

Tình yêu và mộng tưởng luôn là đề tài muôn thuở của nghệ thuật, ta có thể bắt gặp một Nhất Linh lạc quan với những ảo tưởng trong nỗi buồn muôn thuở hay Thạch Lam vừa mơ mộng vừa hiện thực tỉnh táo thì Thế Lữ được xem như người đem đến vẻ đẹp vốn có cho văn xuôi Việt Nam.

Trước 1945, nhà văn đến với thể loại truyện kinh dị và trinh thám, nằm trong danh tác Việt Nam có Vàng và máu, đỉnh cao của văn học đương thời. Ngoài ra còn phải kể đến Bên đường Thiên Lôi, Lê Phong phóng viên và Đòi hẹn.

Không chỉ dừng lại ở đó, Thế Lữ còn thử sức ở mảng phê bình văn học hiện đại. Với bút danh khác là Lê Ta, ông cho đăng tải những bài đánh giá của mình trên tờ Phong hóa và Ngày nay, có thể điểm qua một số tác phẩm nổi bật như Điểm sách, Tựa tập Thơ Thơ hay Ngày xưa.

Khi thơ Mới có dấu hiệu suy tàn thì nhà văn đã tìm đến kịch nói, từ đó thấy rõ Thế Lữ là một người luôn thay đổi để phù hợp với từng bước đi của thời cuộc. Ông không chỉ nhận thức được thơ ca với vẻ đẹp muôn điệu mà còn khơi dậy sức sống mới cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam.

Dùng nghệ thuật để chinh phục nhân sinh

Đời văn Thế Lữ được chia thành hai giai đoạn chính và mỗi bước chuyển mình đều song hành với văn học nghệ thuật. Nhà văn luôn tự giác ý thức về cái mới, từ đó để bản thân gắn bó sâu sắc với đất nước xã hội cũng như đời sống nhân dân.

Năm 1949, ông gia nhập quân đội với vai trò là trưởng đoàn kịch Chiến thắng ở Tổng cục chính trị. Tại đây, Thế Lữ vẫn hoạt động hăng say trên mọi mặt trận, ông tiếp tục cho ra đời các tác phẩm truyện ngắn, truyện vừa, truyện đường rừng hay kinh dị và trinh thám.

the lu hinh anh 5 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Tập thơ Mấy vần thơ được xuất bản vào năm 1941

Dân ta đầu thế kỷ XX dần tiếp xúc nhiều hơn với khoa học nên việc tiếp thu làn sóng phương Tây cũng là một điều tất yếu. Nhân vật trong văn xuôi Thế Lữ đều được xây dựng từ lối tư duy mới, họ đầy bản lĩnh, lý trí và luôn hành động.

Văn học hiện thực phê phán dần thay thế cho văn học lãng mạn, chúng ta có thể nhắc đến một Nam Cao mang giọng điệu buồn thương da diết trong Chí Phèo hay Vũ Trọng Phụng châm biếm xã hội Tây hóa đang du nhập vào Việt Nam thì Thế Lữ cũng không ngoại lệ, cây bút xây dựng nên nhân vật với tấn bi kịch nảy sinh từ chính cuộc đời họ.

Thế Lữ luôn nhấn mạnh vào ý thức về nỗi bất hạnh, có một số tác phẩm nổi bật như Ông Phán nghiệnGói thuốc láGió trăng ngàn hay Trại Bồ Tùng Linh. Tất cả đều mang đậm phong cách sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật mà nhà văn theo đuổi.

Nếu Sáng trong Một người hiếm có là biểu trưng cho niềm khao khát mãnh liệt về sự thoát ly và tôn thờ cái đẹp tuyệt đinh trong văn học nghệ thuật thì nhân vật chính ở Thoa lại khác, sống một đời tầm thường lặng lẽ mà theo Thế Lữ là:

“Tháng năm qua đi, cùng với cuộc đời hoạt động bên ngoài, người thiếu nữ cặm cụi vẫn ngồi mãi một nơi âm u và điểm vào những ngày lặng lẽ của nàng một tiếng thở dài rất nhẹ, rất dịu.”

– Thoa

Có thể thấy, đó là những con người lạc lõng nhưng luôn có niềm tin vào một tình yêu đích thực, như một vòng tuần hoàn, dù có hy vọng đến bao nhiêu thì họ vẫn quay trở về điểm xuất phát của đời người, không người thân, bạn bè mà chỉ sống với cô độc và đau thương.

Suốt cả chặng đường văn học, Thế Lữ không chỉ là nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn đầu của phong trào thơ Mới mà ông còn cầm bút cho nhiều thể loại khác nhau. Từ đó, cho ra đời những tác phẩm được viết bằng cả tấm lòng hăng say và không bao giờ nuối tiếc.

Nhạc của thơ cũng là nhạc của đất nước 

Nhớ rừng ra đời như một bước đánh dấu cho sự xuất hiện của cái tôi cá nhân, từ đó làm nảy sinh cuộc đấu tranh đòi quyền sống, quyền được thể hiện suy nghĩ và tình cảm. Để rồi, chính điều đó đã được bộc phát mạnh mẽ nhằm nói lên khát vọng tự do của đất nước.

Tâm trạng đau đớn, tủi nhục của nhân vật trữ tình đã trở thành nét ẩn dụ cho bi kịch đời sống xã hội lúc bấy giờ. Nhân dân Việt Nam khốn khổ trong xiềng xích nô lệ và Nhớ rừng là một tiếng vọng tha thiết về tình yêu quê hương và giấc mộng lớn cho nỗi niềm của cả thời đại.

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng,

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt?”

– Nhớ rừng

Nhớ rừng là âm vang về một thời tuổi trẻ đẹp đẽ, là tư tưởng lớn lao mang tiếng nhạc đầy oai phong hùng vĩ. Không những thế, bài thơ còn nói lên được khát khao được sống đúng với chính mình, điều này đã trở thành giao điểm giữa sự căm hờn của kẻ mất nước với tâm trạng bất lực trước thế hệ thanh niên tri thức tiểu tư sản lúc bấy giờ.

the lu hinh anh 7 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Ảnh bìa sách Lê Phong

Tinh thần dân tộc còn được thể hiện qua hình ảnh khách chinh phu đang không ngừng dấn thân vào cuộc đời mới trong Giây phút chạnh lòng. Bài thời ra đời trong thời điểm đất nước bị đô hộ gần một trăm năm, chế độ nửa thực dân phong kiến khiến nhân dân đói khổ và tuyệt vọng.

Người chinh phu ở đây là những con người đi theo cách mạng, bức tranh hiện thực dần được hé mở trong mỗi câu thơ mang đậm tính lãng mạn nhưng ở đó vẫn có chí bình sinh và tình yêu to lớn dành cho tổ quốc.

“Năm năm theo tiếng gọi lên đường,

Tóc lộng tơi bời gió bốn phương.”

– Giây phút chạnh lòng

Ở Thế Lữ luôn có một tình yêu dân tộc chân thành và da diết nhất, nhân vật trữ tình có sự hài hòa giữa kẻ trí thức mang nỗi đau mất nước với người nghệ sĩ giang hồ phiêu lãng bốn phương. Để rồi, mỗi trang viết mang tên ông đều in đậm linh hồn của đất nước quê hương.

Thế Lữ luôn thể hiện được tâm tư, nỗi niềm của một thế hệ bị dồn ép, muốn được giải phóng để tự do ngang nhiên đối mặt với trời đất. Nhà văn đưa chúng ta đến cái đẹp để làm rõ sự thật, quay về quá khứ để suy ngẫm nhiều hơn cho hiện tại và tương lai.

Ở thơ Mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên, non nước và yêu tiếng nói dân tộc, đây cũng chính là nỗi niềm không chịu bằng lòng với hiện thực xã hội đầy trái ngang. Thế Lữ cũng vậy, ông sống hết mình với thi ca, điều đó không chỉ biểu đạt cái tôi lãng mạn mà còn thể hiện được nỗi niềm sâu kín đối với đất nước.

“Thành Đô với cảnh sắc huy hoàng

Cũng lặng chìm trong áng khói sương.

Hoà thuận yên vui đời thái lạc.

Đồn xa, quân lính hoạ ca xang.”

– Đời thái bình 

Đối với Thế Lữ, thơ chạm đến lòng người là chưa đủ, lãng mạn được xem như con đường tuyệt đẹp để nghệ thuật bộc lộ được tâm tưởng của chính nó. Dù có trở thành đối tượng nào trong thi ca thì ở đó, vẫn luôn có một ngọn lựa cháy âm ỉ chỉ chờ đợi để chực trào.

Sau năm 1945, Thế Lữ thực hiện trọn vẹn bổn phận của một người nghệ sĩ chân chính trong suốt những năm tháng cách mạng, xây dựng cuộc sống mới và đấu tranh thống nhất đất nước. 

Thế sự gắn với thơ như trái tim gắn liền với khối óc, những sáng tác do Thế Lữ chắp bút đã khơi nguồn cho sự trỗi dậy của nhân dân. Hiện lên trên mỗi trang viết ấy là sự sống với hơi thở gấp gáp và sôi nổi đồng thời đó cũng là tấm lòng tin yêu con người, dân tộc.

Thế Lữ mang hồn thơ với trái tim rộng mở

Văn học lãng mạn xuất hiện vào những năm đầu tiên của thập kỷ 30, khi đó Việt Nam là một nước thuộc địa nên đời sống nghệ thuật cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực từ sự du nhập của làn sóng phương Tây.

Ở xã hội phong kiến, cái tôi cá nhân hầu như không có chỗ đứng trên địa hạt văn học nhưng trong đó, vẫn có một số cái tên xuất hiện để nói lên những bất công, trái ngang ở đời như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương hay Cao Bá Quát.

Mãi đến sau này, khi phong trào thơ Mới ra đời thì đã trở thành mồi lửa cho sự tiếp nối đầy mạnh mẽ của những cá thể độc đáo và sáng tạo, mở ra một cuộc vận động mới cho văn chương hiện đại nước nhà. Tố Hữu đã từng nói rằng:

“Một nhu cầu lớn về tự do và về phát huy bản ngã.” 

Văn học lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945 xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo như Lưu Trọng Lư, Huy Thông hay Nguyễn Bính, trong số đó không thể thiếu Thế Lữ, người đặt nền móng vững chắc cho thơ Mới, kẻ mang hồn thơ với trái tim rộng mở. 

Ngay từ những bước chân đầu tiên vào nghề viết, nhà văn đã có cho mình một lòng quan tâm đến sự đổi mới liên tục. Ông luôn tìm tòi, nghiên cứu để rồi đã trở thành người mở đầu cho những thời đại trong thi ca sau này.

Đối với Thế Lữ, sự thật là thứ quan trọng mà bất cứ ai cũng phải giữ lấy. Thông qua lăng kính cảm xúc, thiên nhiên trong thơ của ông không chỉ nói lên được nỗi cô đơn giằng xé mà còn là lời kiêu hãnh và tự hào về thái độ tôn thờ cái đẹp thuần túy.

“Tôi chỉ là một khách tình si

Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể.

Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,

Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca

Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ,

Cũng như vẻ Đẹp cao siêu, hùng tráng

Của non nước, của thi văn, tư tưởng.”

– Cây đàn muôn điệu

Thơ trở thành phương tiện để nhà văn truyền đạt thứ tình cảm khác thường, đó là những mong ước mê mải, sự yếu đuối khuất lấp và cũng là nỗi tủi hờn bất lực. Dù nghệ thuật không có niềm phấn khởi nhưng ít nhất vẫn thoát ly được hiện thực, từ đó chạm đến ngưỡng cửa tươi đẹp của tâm hồn.

Kẻ thi sĩ ấy luôn bày tỏ lòng yêu cuộc sống qua từng trang thơ, con người hòa trộn với thiên nhiên để khiến chúng ta hoài niệm, tiếc nuối. Từ đó, xây dựng thái độ trân trọng nhằm giữ lại những khoảnh khắc đẹp đẽ của đất trời, cây cỏ và tuổi trẻ.

the lu hinh anh 8 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Vàng và máu, một trong hai cuốn sách nằm trong Việt Nam danh tác

Hoài Thanh đã nhận định rằng, thơ Thế Lữ là nơi hò hẹn của hai nguồn thi cảm. Nhà văn luôn băn khoăn giữa lối dẫn đi về quá khứ với những mộng tưởng và nẻo đường hướng đến hiện thực, tương lai.

Trong từng mạch máu, mỗi nhịp thở của trái tim ấy vẫn còn nhiều mơ mộng để rồi, chính nó đã biến ông trở thành kẻ thi sĩ trữ tình đầy hoài niệm. Giống với Nguyễn Tuân, Thế Lữ luôn có một niềm khao khát đi tìm cái đẹp và không chấp nhận được bất kỳ lối thoát nào xóa bỏ đi sự tồn tại của chính mình trong xã hội.

Văn chương không chỉ là tiếng nói đầy tình cảm mà còn là nơi để ký thác những tâm tư, ước nguyện của kẻ cầm bút. Ở mỗi trang viết mang tên ông đều giúp độc giả nhận thức được hiện thực, từ đó vươn mình đứng dậy giữa một đời tăm tối, sống có khát vọng và ước mơ nhiều hơn.

Thế Lữ là con người đích thực của văn xuôi 

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 xuất hiện truyện ngắn với nhiều thể loại khác nhau như trào phúng có Nguyễn Công Hoan viết Kép Tư Bền, Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam đậm chất trữ tình hay Nguyễn Tuân với tuỳ bút Vang bóng một thời thì không thể thiếu Thế Lữ, người tiên phong cho thể loại truyện kinh dị, trinh thám ở Việt Nam. 

Nhắc đến truyện kinh dị thì phải nhớ đến Vàng và máu, sau đó có thêm sự xuất hiện của Bên đường thiên lôi, đây được xem là hai kiệt tác của văn xuôi Việt Nam lúc bấy giờ. Khái Hưng đã viết lời tựa cho Vàng và máu với một trái tim yêu đầy khôn xiết, mong mỏi rằng: 

“Tôi vẫn mong mỏi sẽ có nhà văn dung hợp được văn Thái Tây với văn Á Đông, để gây một lối văn viết theo óc khoa học mà vẫn giữ được thi vị của văn tàu. Nhà văn đó ngay nay đã có: Chính là bạn Nguyễn Thế Lữ, thi sĩ trong Tự lực văn đoàn. Thực vậy, tác giả những truyện VÀNG VÀ MÁU và MỘT ĐÊM GIĂNG đã tỏ ra có bộ óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh, hai nhà viết những truyện ghê gớm hay huyền hoặc, làm cho độc giả yếu bóng vía phải rùng mình lúc đêm khuya.”

– Lời tựa Vàng và máu 

Trong văn chương trung đại có Lĩnh nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Việt điện u linh hay Truyền kỳ tân phả, đây là một thể loại nhân văn giàu tính hiện thực vẫn được dân gian tiếp nối và phát triển đến ngày nay.

Truyền kỳ đi qua tâm hồn của Thế Lữ đã trở trên trẻ trung và tràn đầy sức sống, để rồi dựa vào những gì sẵn có, truyện kinh dị được ông chắp bút đều có sự kết hợp giữa cái cũ với cái mới, đặc biệt đầy sáng tạo.

the lu hinh anh 9 - Thế Lữ: Khởi điểm của những khởi điểm
Hình ảnh bìa sách Gói thuốc lá do Thế Lữ chắp bút

Không những thế, nhà văn còn thử sức với thể loại trinh thám, tiêu biểu có Những nét chữ, Gói thuốc lá và đặc biệt phải nhắc đến Lê Phong và Mai Hương. Tác phẩm được nhiều nhà phê bình đánh giá là bản sao của Sherlock Holmes do Conan Doyle sáng tác. 

Thế Lữ cùng Nhất Linh và Khái Hưng đã trở thành ba trụ cột chính cho Tự lực văn đoàn ngay tại thời điểm bắt đầu hoạt động công khai. Ông có nhiều đóng góp giúp nhóm giữ vững được giá trị văn chương toàn vẹn mang tính bùng nổ. 

Vàng và máu đã cho chúng ta thấy một Thế Lữ hoàn toàn mới mẻ, độc đáo. Ông để thể loại truyền kỳ hòa trộn với văn xuôi hiện đại, từ đó minh chứng cho việc không tách rời mà còn đem quá khứ gắn bó chặt chẽ với đời sống văn chương lúc bấy giờ.

Thế Lữ quan niệm rằng, nhà văn phải có nghĩa vụ làm cho hành vi được sáng tỏ, minh bạch trong sự rắc rối của cuộc sống hằng ngày. Ông đã có những dòng chia sẻ về phong cách sáng tác trên báo Phong hóa rằng:

“Chỉ có những cảm giác của cuộc đời thật là còn lại và in sâu trong trí nhớ của người đọc, còn một cốt truyện kể ra và kết cấu một cách khéo léo cho vừa ý độc giả sẽ bị quên ngay, không ai bàn đến nữa.” 

Nhà văn luôn có ý thức sâu rộng về nỗi cô đơn, đó là bi kịch lớn nhất của con người, sự bất lực chính là vĩnh cửu. Cuộc đời chúng ta như những chuyến đi và đến lúc xa lìa sự sống thì cuộc hành trình ấy mới thực sự kết thúc, đó là quy luật tất yếu mà bất cứ ai cũng phải tuân theo.

Thế Lữ là ngôi sao rực rỡ của phong trào Thơ Mới thời kỳ đầu đồng thời đây cũng là cây bút văn xuôi đặc sắc trên văn đàn Việt Nam. Đó là con người sống hết mình vì văn chương, say mê cuồng nhiệt vì nghệ thuật từ đó, mọi sáng tạo đích thực đều trở thành ánh sáng soi vào trái tim bao thế hệ độc giả.